- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa NHCSXH - Vân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
- Căn cứ chính? Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH Thực hiện dân chủ ở cơ sở; Điều 103 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2020/DS-ST Ngày: 28/7/2020. “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Trung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xươnne
2. Bà Lê Thị Diễm Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Đặng Xuân Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2020/TLST-DS, ngày 08/5/2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2020/QĐXXST-DS, ngày 28/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2020/QĐST-DS, ngày 14/7/2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội A.
Địa chỉ trụ sở chính: phố L, phường H, quận H1, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí C - Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Địa chỉ Phòng giao dịch: ấp A, thị trấn K, huyện K1, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã A1, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã A1, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-1-
* Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng làm đại diện, thì vụ án có nội dung như sau:
- Ngày 24/7/2014 Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng cho hộ ông Nguyễn Thanh V và bà Lê Thị Đ là vợ đồng thời là người thừa kế của ông V, vay số tiền vốn là 24.000.000đ; lãi suất trong hạn 0,6%/tháng, lãi suất quá hạn 0,78%/tháng; thời hạn vay 60 tháng; kỳ hạn trả nợ: 06 tháng/lần; hạn trả cuối cùng 19/7/2019; mục đích: Chăn nuôi heo, cải tạo vườn.
- Đến ngày 19/10/2015 Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục cho hộ ông V và bà Đ vay số tiền vốn là 12.000.000đ; lãi suất trong hạn 0,75%/tháng, lãi suất quá hạn 0.975%/tháng; thời hạn vay 60 tháng; kỳ hạn trả nợ: 06 tháng/lần; hạn trả cuối cùng 19/10/2020; mục đích: Xây dựng công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Tổng số tiền vốn vay là: 36.000.000đ.
Sau khi vay do hộ ông V và bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi theo thỏa thuận. Vì vậy, nguyên đơn là Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam huyện K, tỉnh Sóc Trăng đại diện khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh V và bà Lê Thị Đ phải trả tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/4/2020 là: 48.923.698đ (trong đó, tiền vốn là 36.000.000đ và lãi tạm tính đến ngày 29/4/2020 là 12.923.698đ) và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất của hợp đồng đã ký.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh V và bà Lê Thị Đ phải trả tiền vốn và lãi tính đến hết ngày xét xử là ngày 28/7/2020 với số tiền là: 49.835.038đ (trong đó, tiền vốn là 36.000.000đ và lãi tính đến ngày xét xử là ngày 28/7/2020 là 13.835.038đ) và yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn từ ngày 28/7/2020 cho đến khi trả hết nợ vốn vay cho Ngân hàng theo mức lãi suất của hợp đồng mà các bên đã ký.
* Đối với bị đơn Nguyễn Thanh V và người có liên quan quan Lê Thị Đ: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam huyện K, tỉnh Sóc Trăng đại diện, tại Thông báo về việc thụ lý vụ án số 228/TB-TLVA, ngày 08/5/2020 và đã tống đạt hợp lệ cho ông V và bà Đnhưng ông V và bà Đkhông gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông V và bà Đtham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần nhưng ông V và bà Đkhông tham dự. Vì vậy, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa như sau:
-2-
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn tuân thủ và chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn Vân và người liên quan Đào không chấp hành đúng theo nội dung triệu tập của Tòa án để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham dự phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Vân và người liên quan Đào phải trả số tiền vốn và lãi cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Tại phiên tòa sơ thẩm, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng ông V và bà Đ vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông V và bà Đ theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông V và bà Đào.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng giải quyết buộc ông V và bà Đ phải trả tiền vốn và lãi tính đến hết ngày xét xử là ngày 28/7/2020 với số tiền là: 49.835.038đ (trong đó, tiền vốn là 36.000.000đ và lãi tính là 13.835.038đ) và yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn từ ngày 28/7/2020 cho đến khi trả hết nợ vốn vay cho Ngân hàng theo mức lãi suất của hợp đồng mà các bên đã ký.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng: Việc vay tiền của ông V tại Ngân hàng có xảy ra trên thực tế thể hiện tại các giấy đề nghị vay vốn, giấy ủy quyền và sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ mà ông V đã ký tên, cụ thể như sau:
- Ngày 23/7/2014 ông V ký tên vào Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của chương trình cho vay hộ nghèo để vay của Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng số tiền 24.000.000đ, đến ngày 24/7/2014 thì ông V ký nhận số tiền vay 24.000.000đ nêu trên.
- Ngày 16/10/2015 ông V ký tên vào Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn để vay của Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng số tiền 12.000.000đ, đến ngày 19/10/2015 thì ông V ký nhận số tiền vay 12.000.000đ nêu trên.
Sau khi vay, ông V và bà Đ chỉ trả được 2.369.600đ chưa trả vốn. Do ông V bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi nên Ngân hàng khởi kiện để thu hồi vốn và
-3-
lãi. Theo Bảng kê nợ gốc lãi do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án được lưu trong hồ sơ vụ án, thì tính đến hết ngày 28/7/2020, ông V và bà Đ còn thiếu ngân hàng tiền vốn vay 36.000.000đ; tiền lãi suất là 13.835.038đ, tổng cộng vốn và lãi là: 49.835.038đ.
Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn. Do ông V và bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông V và bà Đ phải thanh toán tiền vốn vay và tiền lãi còn thiếu tính đến hết ngày 28/7/2020, tổng cộng là 49.835.038đ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn Hằng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể là: 49.835.038đ x 5% = 2.491.000đ (đã làm tròn số).
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận như những căn cứ và phân tích nêu trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 103, Điều 280, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 12, Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội.
- Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
-4-
1. Buộc bị đơn Nguyễn Thanh V và vợ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải trả cho nguyên đơn là Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đại diện nhận, số tiền vốn vay là 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng) và tiền lãi tính đến hết ngày 28/7/2020 là 13.835.038đ (mười ba triệu, tám trăm ba mươi lăm ngàn, không trăm ba mươi tám đồng); tổng cộng tiền vốn và lãi là: 49.835.038đ (bốn mươi chín triệu, tám trăm ba mươi lăm ngàn, không trăm ba mươi tám đồng).
Kể từ ngày 29/7/2020, ông V và bà Đ còn phải tiếp tục trả cho nguyên đơn là Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam do Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam huyện K, tỉnh Sóc Trăng đại diện nhận, số tiền lãi trên số tiền vốn vay là 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng) theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã ký.
2. Án phí sơ thẩm: Ông V và bà Đ phải chịu 2.491.000đ (hai triệu, bốn trăm chín mươi mốt ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với ông V và bà Đ thời hạn kháng cáo nêu trên được tính từ ngày ông V và bà Đ nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. -5- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nam Trung |