vanban.org

Bản án 51/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 07/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P phạm Tội đánh bạc.

Hình phạt: Phạt bị cáo Chu Văn H 08 (tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2019. Phạt bị cáo Huỳnh Văn T1 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm 07/8/2019. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn H và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P phạm Tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2019/HS-ST
Ngày 07 - 8- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Chu Thanh Hữu;

Bà Hoàng Thị Dung.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nông Văn Đông - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phù Trung Tƣớng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Chu Văn H; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 18 tháng 7 năm 1987, tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thƣờng trú và chỗ ở: Thôn K, xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu T và bà Nông Thị Đ; vợ: Nguyễn Thị C và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự về tội đánh bạc vào ngày 27/11/2013 Công an phƣờng Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn đã lập biên bản về vi phạm hành chính; nhân thân: Đã bị xử lý vi phạm hành chính cụ thể: Tại Quyết định số 00713/QĐXPVPHC, ngày 21/02/2014 Công an phƣờng Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính mức phạt là 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong vào ngày 11/4/2014 (thời gian đƣợc coi là chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng). Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng từ ngày 15/4/2019 đến nay, có mặt.

2. Huỳnh Văn T1; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 10 tháng 2 năm 1975, tại huyện H, tỉnh Bình Định. Nơi đăng ký thƣờng trú và chỗ ở: Thôn L, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc M (đã chết) và bà Tạ Thị L; vợ: Trần Thị H1 và có 02 con; nhân thân: Chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng từ ngày 15/4/2019 đến ngày 09/5/2019 cho gia đình bảo lĩnh, có mặt.

3. Lý Hoài P; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 02 tháng 6 năm 1975, tại huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký thƣờng trú và chỗ ở: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ T2 (đã chết) và bà Lý Kỳ H2; vợ: Nguyễn Thị Cẩm N và có 02 con; nhân thân: Chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng từ ngày 15/4/2019 đến ngày 20/5/2019 cho gia đình bảo lĩnh, có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nông Văn Ƣ, sinh năm 1980, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 15/4/2019 tại khu vực Ngã 3 M, thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang một số ngƣời tham gia đánh bạc đƣợc thua bằng tiền dƣới hình thức chơi “ Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà” có 03 ngƣời là Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P bị bắt quả tang, còn một số đối tƣợng khác đã chạy thoát. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.100.000 đồng, các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc gồm: 10 quân vị hình vuông, các mặt có các hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà; 01 bát kim loại hình tròn; 01 tờ lịch mặt trƣớc có chữ “ĐẢNG ỦY-BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN HOÀI NHƠN” mặt sau dán giấy in có 06 hình: Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà màu đỏ, (dụng cụ đánh bạc còn có chiếc đĩa nhôm Cơ quan điều tra đã truy tìm nhƣng không thấy). Ngoài ra còn tạm giữ những đồ vật, tài sản sau: Tạm giữ của Chu Văn H số tiền 4.795.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh; tạm giữ của Huỳnh Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, lắp kèm 01 sim Viettel và 01 sim VietNammobile; tạm giữ của Lý Hoài P số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen.

Cách chơi nhƣ sau: Có 03 con vị là các hình lập phƣơng gồm 06 mặt, trên các mặt có in hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà, bàn chơi là một tờ lịch mặt sau có in hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà, mỗi một lần chơi ngƣời chơi chọn một hoặc nhiều ô mình thích và đặt tiền vào đó. Nhà cái sẽ dùng một cái đĩa bằng nhôm, để 03 quân xúc xắc lên đó úp lại bằng một cái bát nhôm và xóc đi xóc lại nhiều lần, sau đó mở bát ra. Các mặt ngửa lên của các quân xúc xắc chính là các mặt thắng (nếu ngƣời chơi đặt x đồng vào cửa tôm mà có 01 hình con tôm xuất hiện thì ngƣời chơi sẽ đƣợc trả thêm x đồng, có 02 hình con tôm thì đƣợc trả thêm 2x đồng và 03 hình con tôm thì đƣợc trả thêm 3x đồng. Nếu không có con tôm nào xuất hiện thì là thua thì sẽ mất x đồng đã đặt). Những ngƣời chơi đặt tiền vào các ô không trùng với mặt thắng thì sẽ bị nhà cái thu hết số tiền đã đặt. Mỗi ván ngƣời cầm cái thu hết số tiền của ngƣời chơi đặt ở ô thua và trả tiền cho ngƣời đặt ô thắng, nếu còn thừa thì ngƣời cấm cái đƣợc hƣởng số tiền đó, nếu thiếu thì ngƣời cầm cái phải lấy tiền của mình bù vào để trả cho những ngƣời đặt ở ô thắng. Các bị cáo tham gia đánh bạc nhƣ sau: Chu Văn H bỏ ra số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, đánh đƣợc hai ván mỗi ván đặt 50.000 đồng, Huỳnh Văn T1 bỏ ra số tiền 300.000 đồng đánh đƣợc khoảng 10 ván mỗi ván đặt 50.000 đồng, Lý Hoài P sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, đánh đƣợc 03 ván mỗi ván đặt 100.000 đồng. Khi đang đánh bạc thì bị bắt quả tang.

Tại phiên tòa các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số: 46/CT- VKS- HS ngày 08 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P về Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P phạm Tội đánh bạc. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Chu Văn H; căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P; xử phạt bị cáo Chu Văn H từ 09 đến 12 tháng tù giam; xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P từ 06 đến 09 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 triệu đồng. Theo các tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo Chu Văn H không có tài sản, bị cáo Huỳnh Văn T1 không có tài sản, bị cáo Lý Hoài P có 01 nhà cấp 4 là tài sản chung đứng tên vợ chồng; tại phiên tòa các bị cáo khai các bị cáo làm nghề lái xe có thu nhập từ 08 triệu đồng đến 09 triệu đồng một tháng, do các bị cáo có thu nhập. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 sung ngân sách Nhà nƣớc.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc số tiền 5.100.000 đồng, đây là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 10 quân vị hình vuông, các mặt có các hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà; 01 bát kim loại hình tròn; 01 tờ lịch mặt trƣớc có chữ “ĐẢNG ỦY-BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN HOÀI NHƠN” mặt sau dán giấy in có 06 hình: Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà màu đỏ, đây là công cụ, phƣơng tiện các bị cáo dùng để đánh bạc.

Đề nghị trả lại cho bị cáo Chu Văn H số tiền 4.795.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh; trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, lắp kèm 01 sim Viettel và 01 sim VietNammobile; trả lại cho bị cáo Lý Hoài P số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen. Đây là tiền, tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trong lời nói sau cùng của các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P: Các bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo vì với số tiền thu nhập từ nghề lái xe thuê là 08 triệu đồng đến 09 triệu đồng một tháng so với mức sống hiện nay chỉ đủ cho các bị cáo trang trải cho cuộc sống của mình và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với hành vi phạm tội, phù hợp với lời khi của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai ngƣời chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; do đó có căn cứ xác định: Vào hồi 14 giờ 25 phút, ngày 15/4/2019 tại khu vực Ngã 3 M, thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện Văn Lãng phát hiện bắt quả tang một số ngƣời tham gia đánh bạc đƣợc thua bằng tiền dƣới hình thức chơi “ Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà” có 03 ngƣời là Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P bị bắt quả tang, còn một số đối tƣợng khác đã chạy thoát. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.100.000 đồng, các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc gồm: 10 quân vị hình vuông, các mặt có các hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà; 01 bát kim loại hình tròn; 01 tờ lịch mặt trƣớc có chữ “ĐẢNG ỦY- BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN HOÀI NHƠN” mặt sau dán giấy in có 06 hình: Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà màu đỏ. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn lãng, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P phạm Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hƣởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phƣơng; các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc về hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện với mong muốn sát phạt nhau bằng tiền để thu lợi bất chính. Chính vì vậy, mọi hành vi đánh bạc cần phải đƣợc xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Đây là vụ án hình sự đánh bạc có nhiều ngƣời tham gia nhƣng không có tính chất chuyên nghiệp, mang tính chất đồng phạm giản đơn do có nhiều bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra và cùng phải chịu một chế tài do điều luật đó quy định. Xong về nguyên tắc mỗi ngƣời đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó. Trong vụ án này không xác định đƣợc ai là ngƣời chủ mƣu, khởi xƣớng, chuẩn bị công cụ, các bị cáo chỉ là ngƣời đánh bạc.

Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo Chu Văn H đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc từ năm 2014 tính đến nay đã đƣợc coi nhƣ là chƣa bị xử lý vi phạm hành chính nhƣng vẫn bị coi là ngƣời có nhân thân xấu; tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ trong quá trình điều tra bị cáo Chu Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Chu Văn H đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; các bị cáo Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P đều chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ trong quá trình điều tra các bị cáo Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, các bị cáo Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhƣng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng. Trên cở sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, vai trò, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với bị cáo Chu Văn H có nhân thân xấu. Xét thấy, bị cáo không có khả năng tự cải tạo mình vì trƣớc đó bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhƣng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn cố ý thực hiện hành vi đánh bạc điều này thể hiện sự coi thƣờng pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, tuy nhiên cũng cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để từ đó bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành ngƣời có ích cho xã hội.

Đối với các bị cáo Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P có nhân thân tốt, bị xử phạt tù không quá 03 năm, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, có nơi cƣ trú rõ ràng và trong thời gian áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh các bị cáo chấp hành tốt chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc. Xét thấy, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam, mà cho các bị cáo hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng là đủ giáo dục các bị cáo trở thành ngƣời có ích cho xã hội

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo có thể bị áp dụng phạt hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo Chu Văn H không có tài sản, bị cáo Huỳnh Văn T1 không có tài sản, bị cáo Lý Hoài P có 01 nhà cấp 4 là tài sản chung đứng tên vợ chồng, còn tại phiên tòa các bị cáo khai các bị cáo làm nghề lái xe thuê có thu nhập từ 08 triệu đồng đến 09 triệu đồng một tháng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo khai nhận bản thân có thu nhập từ nghề lái xe thuê mỗi tháng thu nhập từ 08 triệu đồng đến 09 triệu đồng nhƣ vậy mức thu nhập trên cũng chỉ đủ nuôi gia đình và trang trải cho bản thân các bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng đã đề nghị mức hình phạt, hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị này chƣa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.

Các bị cáo khai có một đối tƣợng tên gọi là “Ba” là ngƣời cầm cái đánh bạc, tuy nhiên khi Cơ quan Công an bắt quả tang, đối tƣợng đã chạy thoát. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh tuy nhiên không xác minh đƣợc danh tính, địa chỉ cụ thể của đối tƣợng trên. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý trong vụ án này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 5.100.000 đồng trên chiếu bạc; các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc gồm: 10 quân vị hình vuông, các mặt có các hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà; 01 bát kim loại hình tròn; 01 tờ lịch mặt trƣớc có chữ “ĐẢNG ỦY- BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN HOÀI NHƠN” mặt sau dán giấy in có 06 hình: Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà màu đỏ; tạm giữ của Chu Văn H số tiền 4.795.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh; tạm giữ của Huỳnh Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, lắp kèm 01 sim Viettel và 01 sim VietNammobile; tạm giữ của Lý Hoài P số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, xét thấy: Đối với số tiền 5.100.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc; đối với 10 quân vị hình vuông, các mặt có các hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà; 01 bát kim loại hình tròn; 01 tờ lịch mặt trƣớc có chữ “ĐẢNG ỦY- BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN HOÀI NHƠN” mặt sau dán giấy in có 06 hình: bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà màu đỏ là công cụ, phƣơng tiện các bị cáo dùng để đánh bạc không có giá trị sử dụng. Tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 4.795.000 đồng và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh tạm giữ của bị cáo Chu Văn H; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, lắp kèm 01 sim Viettel và 01 sim VietNammobile tạm giữ của bị cáo Huỳnh Văn T1; đối với số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen tạm giữ của bị cáo Lý Hoài P các bị cáo không dùng tiền, tài sản này vào việc phạm tội; trả lại cho bị cáo Chu Văn H số tiền 4.795.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh; trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, lắp kèm 01 sim Viettel và 01 sim VietNammobile; trả lại cho bị cáo Lý Hoài P số tiền 500.000 đồng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen.

Ngoài ra, dụng cụ đánh bạc còn có chiếc đĩa nhôm Cơ quan điều tra đã truy tìm nhƣng không thấy. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo bị kết án. Do đó, các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Chu Văn H;

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P;

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P phạm Tội đánh bạc.

2. Hình phạt: Phạt bị cáo Chu Văn H 08 (tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2019.

Phạt bị cáo Huỳnh Văn T1 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm 07/8/2019. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện H, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Huỳnh Văn T1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện H, tỉnh Bình Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bị cáo Lý Hoài P 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách 12 (mƣời hai) tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm 07/8/2019. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lý Hoài P có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trƣờng hợp các bị cáo Huỳnh Văn T1, Lý Hoài P thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P.

4. Xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 5.100.000 (năm triệu một trăm nghìn) đồng trong tổng số tiền 10.395.000 (mƣời triệu ba trăm chín mƣơi lăm nghìn) đồng thu, giữ đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng.

Tịch thu tiêu hủy 10 (mƣời) quân vị hình vuông, các mặt có các hình bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà; 01 (một) bát kim loại hình tròn; 01 (một) tờ lịch mặt trƣớc có chữ “ĐẢNG ỦY- BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ HUYỆN HOÀI NHƠN” mặt sau dán giấy in có 06 hình: Bầu, cua, tôm, cá, hƣơu, gà màu đỏ.

Trả lại cho bị cáo Chu Văn H số tiền 4.795.000 (bốn triệu bẩy trăm chín mƣơi lăm nghìn) đồng trong tổng số tiền 10.395.000 (mƣời triệu ba trăm chín mƣơi lăm nghìn) đồng thu, giữ đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, màn hình cảm ứng, lắp kèm 01 sim Viettel và 01 sim VietNammobile.

Trả lại cho bị cáo Lý Hoài P số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng trong tổng số tiền thu, giữ 10.395.000 (mƣời triệu ba trăm chín mƣơi lăm nghìn) đồng thu, giữ đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen.

(Vật chứng và tiền trên hiện đang đƣợc lƣu giữ tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo nội dung Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2019 và theo nội dung Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 19/6/2019).

5. Án phí: Các bị cáo Chu Văn H, Huỳnh Văn T1 và Lý Hoài P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp sung ngân sách Nhà nƣớc.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ