- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buy Thanh D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2019/HS-ST. Ngày 25-7-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Hoài Hiêm;
Ông Vương Văn Mum
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thế Sự là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Bùi Thanh D sinh năm 1992, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã An Hòa, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M và bà Phạm Thu L; vợ, con: Không có; Tiền sự: Tại Quyết định số 75/QĐ/TA ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh D thời hạn 12 tháng đã chấp hành xong ngày 19/11/2018; tiền án: không; Nhân thân: Tại Quyết định số 4001/QĐ-UBND ngày 03/9/2013 của Ủy ban nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh D tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội Tây Ninh thời hạn 24 tháng đã được xóa; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2019 đến nay; bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 15 phút ngày 29/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Bùi Thanh D đang bán trái phép 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong chứa tinh thể trong suốt (nghi là ma túy) cho Nguyễn Văn X với giá tiền 200.000 đồng tại nhà D thuộc ấp Hòa Hưng, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ của D số tiền Việt Nam 700.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng bán ma túy cho Xuân); tiếp tục khám xét nơi ở của D thu giữ một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra thể hiện: Ngày 28/5/2019, Bùi Thanh D mua ma túy của người tên “C” (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực cổng chào Tây Ninh, thuộc ấp S, xã A, huyện T với giá 500.000 đồng về sử dụng và bán trái phép chất ma túy cho người nghiện thu lợi bất chính. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/5/2019, D đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Nguyễn Văn X hỏi mua 200.000 đồng chất ma túy đá thì D đồng ý. Đến 11 giờ cùng ngày, trong lúc D bán cho X 01 bịch ma túy và nhận 200.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, từ ngày 30/4/2019 đến ngày 28/5/2019, D mua 03 lần ma túy của người tên “C”, bán trái phép chất ma túy cho X 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Lời khai của D phù hợp với lời khai của X.
Tại Kết luận giám định số 772/KL-KTHS ngày 30/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín là chất ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,0507 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSTrB ngày 29 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố Bùi Thanh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thanh D từ 08 (tám) đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Do bị cáo không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với những chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng, đã có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 30/4/2019 đến ngày 28/5/2019, Bùi Thanh D đã bán 03 lần trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn X để sử dụng. Tiếp tục ngày 29/5/2019, D bán cho X 0,0507 gam Methamphetamine tại nhà D thuộc ấp H1, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị bắt quả tang đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Thanh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo thực hiện nhiều lần (04 lần) mua bán ma túy nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Cụ thể, bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe con người, nhưng bị cáo vẫn cố ý mua chất ma túy về chia nhỏ để bán cho đối tượng nghiện ma túy sử dụng nhằm mục đích thu lợi bất chính đồng thời tiếp tay cho những đối tượng này đi vào con đường tệ nạn xã hội. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu vì có 01 tiền sự đã được xóa và một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú những lần phạm tội khác. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Thanh D, Nguyễn Văn X, Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Riêng người tên C đã bán ma túy cho D hiện không rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra cần tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 700.000 đồng, thu của bị cáo là tiền bị cáo thu lợi từ hành vi mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Forme, màu xanh đen bạc, số IMEI 1: 355960083502, số IMEI 2: 355960083502514, bên trong có sim số 0888352597 (đã qua sử dụng), thu của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng); 01 bật lửa màu xanh (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon trong suốt có một đầu hở, một đầu bịt kín, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu nhọn hở, bên trong rỗng; 01 bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống hút nhựa và một ống thủy tinh là các công cụ dùng để sử dụng ma túy không có giá trị cần tịnh thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thanh D 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 5 năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
Tiền Việt Nam 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng.
Một điện thoại di động hiệu Forme, màu xanh đen, số IMEI 1: 355960083502, số IMEI 2: 355960083502514, bên trong có sim số 0888352597 (đã qua sử dụng).
2.2. Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) bật lửa màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) bịch nylon trong suốt có một đầu hở, một đầu bịt kín, bên trong rỗng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu nhọn hở, bên trong rỗng; 01 (một) bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống hút nhựa và một ống thủy tinh.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Thanh D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Tây Ninh; - VKS H. Trảng Bàng; - Chi cục THADS H. Trảng Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Văn Trưởng |