- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn B Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 51/2019/HS-ST Ngày: 16/10/2019 |
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hiến. 2. Ông Lò Văn Sơn. - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sóng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái- Kiểm sát viên. Hôm nay, ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Chiềng Sơ, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2019/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Vì Văn B (tên gọi khác: Không); sinh năm 1980; nơi sinh: huyện Đ, tỉnh B; nơi cư trú: Bản P, xã C huyện Đ, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Xinh mun; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vì Văn Ho sinh năm 1959 và bà Vì Thị P sinh năm 1954; có vợ Vì Thị X sinh năm 1982 và 04 con; tiền án không, tiền sự không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2019 đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ, ngày 21/6/2019, Vì Văn Bđiều khiển xe máy của mình đi uống Methadone tại trạm Y tế xã M, huyện Đ, trên đường quay về nhà Vì Văn B gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) và mua được 02 viên hồng phiến với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) rồi Vì
Văn Bđiều khiển xe máy trở về nhà, một lúc sau thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Sơ đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 02 viên hồng phiến. Cùng ngày tại Công an huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên đã mở niêm phong xác định khối lượng đối với vật chứng thu giữ của Vì Văn B có khối lượng là 0,17gam và trích 0,1gam gửi giám định còn lại 0,07gam. Tại bản kết luận giám định số: 692/GĐ-PC09 ngày 28/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Vì Văn B gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Bản cáo trạng số: 53/CT-VKS-ĐBĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vì Văn Bvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vì Văn B cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Vì Văn B từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về vật chứng vụ án áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1]. Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn B thừa nhận: Khoảng 09 giờ, ngày 21/6/2019, Vì Văn B trên đường đi uống thuốc Methadone về mua được 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ của một người đàn ông dân tộc Thái. Mục đích của bị cáo mua về sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi mua 0,17 gam Methamphetamine để sử dụng của Vì Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định được quy định như sau: "1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;" [2]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Tuy hành vi chỉ mang tính chất giản đơn nhưng rất nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục cũng như để cai nghiện cho bị cáo sau này trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. [3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm ruộng, là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, khó có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. [4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [5]. Về vật chứng vụ án: - Gồm 0,17gam đã trích 0,10gam gửi giám định còn lại 0,07gam là chất thuộc Nhà nước cấm lưu hành, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 27H1-26.92 Công an huyện Điện Biên Đông đã điều tra làm rõ chiếc xe máy là tài sản của Vì Thi X sinh năm 1982, nơi cư trú bản P, xã C, huyện Đ. Khi Vì Văn B sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy chị X không hề hay biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho Vì Thị X. HĐXX chấp nhận. [6].Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số đang cư trú tại nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. [7].Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Đối với người đàn ông dân tộc Thái theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa làm rõ được nên chưa đề cập xử lý trong vụ án này, HĐXX không đặt vấn đề xem xét. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự; - Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn B (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vì Văn B12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 21/6/2019). 2. Về vật chứng vụ án: - Tịch thu và tiêu hủy 0,17gam và trích 0,1gam gửi giám định còn lại 0,07gam. Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 25/9/2019 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.
3. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn B. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/10/2019). T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Điện Biên Đông; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan CSĐT CA huyện Điện Biên Đông; - Nhà tạm giữ CA huyện Điện Biên Đông; - Cơ quan THAHS CA huyện Điện Biên Đông; - CCTHADS huyện Điện Biên Đông; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |