- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Xuân N về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2019/HNGĐ-ST Ngày 11 – 4 – 2019 Về việc xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Vượng.
Ông Hà Trọng Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thúy Dung, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Em - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2019 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Xuân N, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ tạm trú: Phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).
Ñòa chæ: đường L, khóm B, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (Hiện đang chấp hành án tại trại giam Cái Tàu, thuộc xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 25/02/2019 và quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Xuân N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh P xác lập quan hệ vợ chồng năm 2009, đến năm 2010 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng trong cuộc sống, anh P không lo làm ăn, nhiều lần vợ chồng ly thân nhằm tạo cơ hội để anh P sửa chữa, nhưng anh P không sửa đổi và anh chị đã ly thân từ năm 2014. Nay chị xác định tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn anh P.
Về con chung: Chị và anh P có 01 người con tên Nguyễn Phương K, sinh ngày 06/7/2009, hiện cháu đang sống với gia đình anh P (cha mẹ ruột anh P). Khi ly hôn, chị yêu cầu giao con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không nợ ai và không ai nợ lại anh chị.
- Tại biên bản ghi ý kiến anh Nguyễn Minh P trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị N chung sống vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2010. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến xảy ra cãi vã. Nay chị N xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị N có 01 người con tên Nguyễn Phương K, sinh ngày 06/7/2009, hiện cháu đang sống với cha mẹ ruột của anh do anh đang chấp hành án. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh xác định không nợ ai và không ai nợ lại anh chị.
- Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, giao cháu Nguyễn Phương K, sinh ngày 06/7/2009 cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung: Không có; Về án phí, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Minh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do anh đang chấp hành án tại trại giam Cái Tàu nên anh xin vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải và xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định.
Về hôn nhân: Chị Bùi Xuân N và anh Nguyễn Minh P xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2009, đến ngày 08/6/2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống cả hai anh chị đều thừa nhận vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng trong cuộc sống. Nay chị N xác định tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn và anh Nguyễn Minh P đồng ý. Xét thấy, đời sống hôn nhân của anh, chị đã thực sự không còn, mâu thuẫn giữa anh chị là có xảy ra, nay cả hai anh chị thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của anh chị, cho chị N được ly hôn anh P.
Về con chung: Chị N và anh P có 01 người con tên Nguyễn Phương K, sinh ngày 06/7/2009, hiện cháu đang sống với gia đình anh P (cha mẹ ruột anh P). Khi ly hôn, chị N, anh P thống nhất giao cháu K cho anh P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu K hiện do gia đình anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh P và chị N thống nhất giao con chung cho anh P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu muốn sống với cha nếu cha mẹ ly hôn nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu K cho anh P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở.
Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con: Anh P không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N, anh P xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Chị N, anh P khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại nên không đặt ra xem xét.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Xuân N về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh P.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương K, sinh ngày 06/7/2009 cho anh Nguyễn Minh P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Chị N được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không có;
- Về nợ chung: Không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị N phải chịu 300.000đ. Ngày 25 tháng 02 năm 2019, chị N đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0002109 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Chị Bùi Xuân N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Minh P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp.Cà Mau; - UBND phường 6, Tp. Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Thu |