- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hữu K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Hữu K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 51/2018/HSST Ngày: 22-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Anh Tuấn.
2. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực - Thư ký Tòa án nhân dân quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 2 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2018/HSST ngày 23/7/2018 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 67/2018/QĐX XST-HS ngày 09/8/2018 đối với bị cáo:
Võ Hữu K, giới tính: Nam sinh năm: 1985; tại tỉnh Ninh Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 12B đường A, Tổ 6, Khu phố B, phường PH, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi ở nhất định;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: K; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; con ông Võ Hữu Đ (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1955; tiền án: 1/ Ngày 09/02/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 32/2007/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/10/2007 nhưng chưa thi hành khoản tiền án phí. 2/ Ngày 30/9/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 286//2011/HSST. 3/ Ngày 06/01/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo bản án số 08/2016/HSST; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/4/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/4/2018 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Quận 2 kiểm tra Cơ sở kinh doanh trò chơi game bắn cá NLP trên đường Lương Định Của, Khu phố 5, phường An Phú, Quận 2 phát hiện đối tượng Võ Hữu K trú tại 12B đường A, Tổ 6, Khu phố B, phường PH, Quận P, có mặt tại đây và có nhiều biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an phường Bình Khánh, Quận 2 để làm rõ. Tại Công an phường Bình Khánh, Quận 2 qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của K có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu K khai là ma túy đá nhặt được trước tiệm game bắn cá NLP. Do vậy Công an phường Bình Khánh đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K. Quá trình điều tra ban đầu K khai số ma túy trên là nhặt được. Tuy nhiên sau đó K khai bản thân mình là đối tượng nghiện và thường xuyên sử dụng ma túy. Số ma túy đá trong túi quần của K là mua của đối tượng nữ tên Út chưa rõ lai lịch ở địa bàn phường An Phú, Quận 2 về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ quả tang cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ:
01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đen imel: 990002297694604; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. Theo Bản kết luận giám định số 734/ KLGĐ-H ngày 13 tháng 4 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1547g (không phẩy một năm bốn bảy gam) loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác. Đối với việc xử lý vật chứng của vụ án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật và không có ý kiến gì thêm.
Bản Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Võ Hữu K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Đây là vụ án do Võ Hữu K đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1547 (không phẩy một năm bốn bảy) gam, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt giữ quả tang cùng tang vật. Do vậy hành vi của K đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo K có ba tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Võ Hữu K từ 05 năm đến 06 năm tù.
Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng:
Bị cáo K: Bị cáo biết lỗi bị cáo rất ăn năn, bị cáo hứa sẽ không tái phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1547 (không phẩy một năm bốn bảy gam) loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt giữ quả tang cùng tang vật
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định ... và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Bản thân bị cáo là công dân, biết rất rõ tác hại của ma tuý và đường lối xử lý của pháp luật. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:
Bị cáo hiện đang có 03 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới nên đã vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là tái phạm nguy hiểm được quy định ở điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, cần phải áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng:
- 01 gói được niêm phong có mã vụ 734/2018Q2: Bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Hữu K, ĐTV Trần Đức Minh, GĐV Phan Tấn Quốc và hình dấu Công an phường Bình Khánh, Quận 2. Bên trong có một gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1547 gram; khối lượng còn lại sau giám định là 0,1112 gram. Xét đây là tang vật của vụ án là chất cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đen imel: 990002297694604. Xét đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Đối với đối tượng bán ma túy cho K tên Út. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Bị cáo phải nộp án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Hữu K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Hữu K 05 (năm) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2018.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong có mã vụ 734/2018Q2: Bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Hữu K, ĐTV Trần Đức Minh, GĐV Phan Tấn Quốc và hình dấu Công an phường Bình Khánh, Quận 2. Bên trong có một gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1547 gram; khối lượng còn lại sau giám định là 0,1112 gram.
+ Trả lại cho bị cáo K: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đen imel: 990002297694604.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKS ngày 20/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - PC53-Công an TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 2; - Thi hành án Dân sự Quận 2; - Công an Quận 2; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đoàn Nam Hà |