- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phạm Văn N bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/HS-ST. Ngày: 26-7-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tư.
Ông Nguyễ n Tù ng Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bả o - Thư ký Tò a á n nhân dân thà nh phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa:Bà Phạm Thị Tuyết Em - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại phòng xử án , Tòa án nhân dân thành phố V tiế n hà nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2018/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Phùng Hoàng N, sinh năm 1997 tại huyệ n A, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyệ n A, tỉnh Vĩnh Long ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Phùng Thanh N và bà Nguyễ n Hồ ng H; bị cáo chưa có vợ , con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tố t; bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/4/2018, sau đó chuyể n tạ m giam đến nay, bị cáo có mặt.
- Người chứ ng kiế n: Ông Trầ n Thanh H , sinh năm 1978, nơi cư trú : Số nhà 88, đườ ng T, Phườ ng B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngà y 08/4/2018, Phùng Hoàng N, sinh năm 1997 đó n xe Buý t đi từ huyện A đến thành phố V, mục đích là để tìm mua ma túy về sử dụng , khi đi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long thì N xuống xe , rồ i tiế p tụ c đó n xe h onda khách đi đến khu vực cầu Kinh Cụt thuộc Phường M, thành phố V, khi đến nơi N kêu ngườ i chạ y xe honda khá ch đứ ng chờ cò n N đi và o con hẻm gần cần Kinh Cụt gặ p mộ t ngườ i thanh niên tó c xoăn , N không biế t rõ họ, tên, đị a chỉ , N hỏ i mua 500.000 đồ ng ma tú y loạ i Heroin, thì người thanh niên này lại chỗ nắ p cố ng gầ n đó lấ y lên hai gó i giấ y bạ c mà u trắ ng đưa cho N và nhậ n củ a N 500.000 đồ ng, sau đó N cầ m hai gó i giấ y bạ c trên tay trá i quay ra chỗ xe đang đợ i
, N lên xe quay về Bệ nh Việ n đa khoa tỉ nh Vĩ nh Long để đó n xe Buý t về huyệ n A, trong lú c chờ xe thì N lên cơn nghiện nên N đi và o con hẻ m gầ n đó thuộ c khu vự c Khó m S, Phườ ng B, thành phố V để sử dụng . Lúc này, lự c lượ ng Công an t hành phố V trên đườ ng tuầ n tra thấ y N có nhiề u biể u hiệ n khả nghi nên tiến hành kiểm tra và thu giữ 02 gói giấ y bạ c trong tú i quầ n phí a trướ c bên phả i , bên trong có nhiề u chấ t bộ t mà u trắ ng , nên lự c lượ ng là m nhiệ m vụ đưa N về công an Phườ ng B lậ p biên bả n bắ t quả tang và chuyển N cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để giải quyết theo thẩm quyền.
Kế t luậ n giá m đị nh số : 163, ngày 10/4/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉ nh Vĩ nh Long kế t luậ n : “Chấ t bộ t trong 02 gói giấy bạ c thu đượ c củ a Phùng Hoàng N là ma túy loại Heroin, trọng lượng là 0,2994 gam.
Quá trình điều tra N khai nhận đã mua ma túy tại đ ịa điể m nêu trên khoả ng 07 lầ n thì bị bắ t, N mua ma tú y chỉ sử dụ ng không mua dù m cho ai cũ ng không bá n lại cho người khác, mỗ i lầ n mua có lú c 60.000 đồ ng có lú c là 500.000 đồ ng.
Vậ t chứ ng đang tạ m giữ là mộ t gó i niêm phong có đó ng dấ u của Phòng kỷ thuậ t hì nh sự Công an tỉnh Vĩnh Long, số tiề n 194.000 đồ ng và mộ t ố ng kim tiêm đã qua sử dụ ng.
Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSNDTPV, ngày 12/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, đã truy tố bị cáo Phùng Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy'' theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi bị cá o nghe Kiể m sá t viên đọ c xong Cá o trạ ng bị cá o không có ý
kiến gì và đồng ý với nội dung Cá o trạ ng mà Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố V đã truy tố đố i vớ i bị cá o về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Sau khi nghe lờ i trì nh bà y củ a bị cá o phiên tò a. Quan điể m củ a Kiể m sá t viên tại phiên tòa là giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng số
: 39/CT-VKSNDTPV, ngày 12/6/2018 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Phùng Hoà ng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy '' theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Khi luận tội xong, Kiể m sá t viên đề nghị phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù theo tộ i danh , điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy t ố đối với bị cáo , về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy và trả lại cho bị cáo số tiền đang tạm giữ , vì số tiề n không liên quan hà nh vi phạ m tộ i.
Kế t thú c phầ n tranh luậ n, bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử xem xét giả m nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có quy định : “Ngườ i nà o tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y mà không nhằ m mụ c đí ch mua bá n, vậ n chuyể n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc mộ t trong cá c trườ ng hợ p sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đế n 05 năm”.
“c) Heroin, Côcain, Methamphetamin, Amphetamin, MDMA có kh ối lượng từ 0,1 gam đế n dướ i 05 gam”. Bị cáo đã tàng trữ khối lượng ma túy đã xác định đượ c là 0,2994 gam, việ c tà ng trữ củ a bị cá o nhằ m mụ c đí ch sử dụ ng , hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy''.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứ ng cứ thu thậ p đượ c trong quá trì nh điề u tra , phù hợp với lời khai của người làm chứng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Phùng Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy '' theo điểm c khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, cất giữ và trao đổi chất ma túy. Vì Nhà nước mới có quyền đó nhằm mục đích khám chữa bệnh. Bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, để lại hậu quả không tốt cho xã hội. Hành vi của bị cáo được thể hiện là bị cáo đã mua ma túy của người khá c không rõ họ , tên, đị a chỉ , tổ ng trọ ng lượ ng 0,2994 gam, đem về để sử dụ ng , nhưng bị cá o chưa đem về tớ i nhà thì bị bắt quả tang , ý thức của bị cáo biết rõ hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố tình thực hiện để phục vụ nhu cầu của bản thân , bị cáo có đủ năng lực về nhận thức cũng như điều khiển hành vi của bị cáo, nên bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của bị cáo đã gây ra. Xét thấy, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, nhằm để răn đe , giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội và góp phần ổn định tình hình chính trị , trật tự an toàn xã hội tại địa phương , cầ n phả i á p dụng hình phạt tù , cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định theo quy đị nh tại Điều 38 của Bộ luậ t Hì nh sự , để cho bị cáo có thời gian học tập , cải tạo và trở thà nh ngườ i công dân có í ch cho xã hộ i sau nà y.
Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, không có tiền sự, khi phạ m tộ i trong quá trình điều tra cũ ng như tạ i phiên tòa bị cá o đã thậ t thà khai bá o, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, nên có căn cứ cho bị cá o hưở ng các tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự quy đị nh tạ i điể m s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ nhữ ng căn cứ nêu trên , xét thấy Kiể m sá t viên đề nghị áp dụng mứ c hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở , nên Hội đồng xét xử chấ p nhậ n và sẽ xem xét , quyế t đị nh á p dụ ng hì nh phạ t cụ thể cho bị cá o trong phầ n quyế t đị nh hình phạt. Đồng thời việc đề nghị của Kiểm sát viên về xử lý vật chứng là phù hợp , nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n.
Về hì nh phạ t bổ sung , theo quy định tạ i khoả n 5 Điề u 249 của Bộ luật Hình sự quy đị nh “Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ 5.000.000 đồ ng đế n 500.000.000 đồ ng…”, do đó , bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung l à phạt tiề n. Tuy nhiên , theo cá c tà i liệ u , chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n đượ c kiể m tra tạ i phiên tò a cho thấ y bị cá o không có nghề nghiệ p ổn định, không có thu nhậ p, không có tài sản nào khác , nên Hộ i đồ ng xé t xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o là có căn cứ.
Về vật chứng, hiện nay Cơ quan điều tra có giữ 01 gói niêm phong sau giám định, 01 kim tiêm đã qua sử dụ ng , các vật chứng nêu trên có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cá o , nhưng ma tú y là Nhà nướ c cấ m tà ng trữ , kim tiêm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là đúng theo quy định tại điể m a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đố i vớ i số tiề n 194.000 đồ ng là tiề n cá nhân củ a bị cá o không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i, nên đượ c trả lạ i cho bị cá o.
Bị cáo còn phải nộp tiề n án phí hình sự sơ thẩm số tiề n 200.000 đồ ng, theo quy định tại điể m a khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ; khoản 2 Điề u 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Điề u 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phùng Hoàng N - 02 (hai) năm tù . Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù của bị cáo được tính từ ngày 08/4/2018.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng điể m a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định và 01 kim tiêm đã qua sử dụ ng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2018 giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V).
- Trả lại cho bị cáo Phùng Hoàng N số tiền 194.000 đ (Mộ t trăm chí n mươi bố n ngà n đồ ng), theo biên lai thu tiề n số 003692, ngày 13/6/2018 của Chi cục Thi hành án thành phố V.
4. Về trách nhiệm nộp á n phí:
Áp dụng khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự năm 2015 và điể m a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộ c bị cá o Phùng Hoàng N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồ ng) tiề n á n phí hì nh sự sơ thẩ m.
5. Về quyề n khá ng cá o:
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhậ n: - TAND tỉ nh Vĩ nh Long; - VKSND TP V; - CC THA DS TP V; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ á n. | TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M THẨ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký ) Hồ Thanh Hồ ng |