| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!KINH!MÔN! TỈNH!HẢI!DƯƠNG! ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/HS-ST Ngày: 24/7/2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!KINH!MÔN,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Chu Văn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Quốc Huy
Bà Phạm Thị Chuộng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2018; Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa lưu động tại Nhà văn hóa thôn Lưu Thượng 1, xã Hiệp An, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
VŨ!VĂN!T;!sinh!năm!1985.!
Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện D, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Bố: Vũ Văn H, sinh năm 1958; Mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1957;
Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ 3. Vợ: Ngô Thị Tr, sinh năm 1983; có 01 con sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/208/HSST ngày 16/7/2008, Vũ Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2018 tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn 1 xã N, huyện D, tỉnh Quảng Ninh.
(Vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 26/3/2018 Vũ Văn T đi xe khách từ nhà đến khu vực Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; T vào 01 quán nước ven đường Quốc lộ 5 gặp 01 người thanh niên không quen biết và hỏi mua ma túy đá với mục đích để sử dụng, người này đồng ý và bán cho T 01 gói ma túy đá được bọc bằng giấy bạc với giá 300.000đ. Sau đó T đi nhờ xe của người đi đường sang huyện Kinh Môn và thuê nhà nghỉ tại xã Thất Hùng, huyện Kinh Môn để nghỉ. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày T trả phòng rồi gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Văn D ở cùng xã với T đến thôn Trạm Lộ, xã Bạch Đằng, huyện Kinh Môn để đón T về nhà. Nguyễn Văn D đi sang đón T, khi đi đến bến đò thôn Trạm Lộ, trong lúc chờ đò T cầm gói ma túy trong tay và ngồi xuống bãi cỏ; 20 giờ 25 phút cùng ngày, khi thấy lực lượng Công an đi đến T liền vứt gói ma túy xuống bãi cỏ nơi T ngồi thì bị Công an phát hiện, thu giữ 01 gói giấy bạc. T khai nhận đó là gói ma túy của T.
Tại bản Kết luận giám định số 1706/C54 (TT2) ngày 05/4/2018; Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu 0,128 gam”.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được lý lịch của người này; đối với Nguyễn Văn D, khi chở T thì không biết T cất giấu ma túy trong người nên không có căn cứ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 52/CT - VKSKM ngày 28/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như quyết định truy tố của VKSND huyện Kinh Môn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện VKSND huyện Kinh Môn giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: T bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Vũ Văn T từ 15 - 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, 29/3/2018.
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,060 gam mẫu tinh thể màu trắng và vỏ bao gói trong 01 niêm phong số 1706/C54 (TT2) do Cơ quan giám định hoàn lại.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau!
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kinh Môn; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, những lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra và người làm chứng; phù hợp khách quan với những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản vụ việc; Biên bản niêm phong; Kết luận của cơ quan giám định về chất bột dạng cục màu trắng thu của Vũ Văn T là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,128 gam.
Đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 20 giờ 25 phút ngày 26/3/2018, tại khu vực bến đò thuộc thôn Trạm Lộ, xã Bạch Đằng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; Vũ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,128 gam Methamphetamine. Bị cáo tàng trữ trái phép Methamphetamine với mục đích để sử dụng; mà không nhằm mục bán, vận chuyển...số ma túy trên. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và căn bệnh nguy hiểm khác; nhân thân bị cáo đã 01 lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy gây ra cho chính bản thân mình cũng như xã hội và sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật đối với loại tội phạm này; nhưng đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tiếp tay cho một tệ nạn xã hội nguy hiểm mà nhà nước và nhân dân ta đang tích cực đấu tranh, bài trừ. Do vậy cần xét xử vụ án nghiêm minh; áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo, ổn định an ninh chính trị tại địa phương và góp phần trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân và mang tính răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp dụng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[6] Xử lý vật chứng:
Số Methamphetamine và vỏ bao gói thu giữ trong vụ án, sau khi giám định thì Cơ quan giám định hoàn lại 0,060 gam trong 01 niêm phong số 1706/C54 (TT2); đây là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu cho tiêu hủy .
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH!
- Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt Vũ Văn T 15 (mười lăm) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 29/3/2018.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine và vỏ bao gói do Cơ quan giám định hoàn lại trong trong 01 niêm phong số 1706/C54 (TT2).
(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn).
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo. Đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. !
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa!
*!Nơi!nhận:!
- VKSND huyện Kinh Môn.
- Công an huyện Kinh Môn.
- Trại tạm giam Kim Chi - CA tỉnh Hải Dương.
- Chi cục THADS huyện Kinh Môn.
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo.
Chu Văn Nghĩa