- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quốc T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/HS -ST Ngày 16 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà . Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Dịu Ông Nguyễn Văn Chuyết
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2018/QĐXXST
- HS ngày 04 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo: Đỗ Quốc T - Sinh năm: 1995 tại tỉnh Vĩnh Phúc Nơi đăng ký HKTT: Xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc Trú tại: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Quốc M; Con bà; Nguyễn Thị Đ; Vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt. Bị hại: Bà Phạm Thị S – Sinh năm: 1952 (Đã chết) Người đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn B – Sinh năm: 1954 Địa chỉ: Đội 2, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (Chồng bà S) – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h20’ ngày 28/5/2018 Đỗ Quốc T điều khiển xe ô tô tải BKS 88C-07263 đi theo hướng từ Lạc Quần - TP Nam Định để đi về tỉnh Vĩnh Phúc (T có giấy phép lái xe ô tô hạng C). Khi đến Km169 + 50 Quốc lộ 21B thuộc địa phận đội 2, xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định lúc này trời mưa nhỏ, mặt đường ướt, đoạn đường phía trước là đoạn đường cong về bên phải theo hướng xe ô tô đi. Theo T khai: T điều khiển xe ô tô đi trên phần đường dành cho xe cơ giới bên phải theo hướng đi (Lạc Quần - Nam Định) với tốc độ khoảng 60km/h, đi sau một chiếc ôtô loại 4 chỗ ngồi đang đi ở phía trước trên phần đường giành cho xe cơ giới bên phải cùng chiều với tốc độ khoảng 60km/h (T không nhớ biển số xe). T điều khiển xe ôtô đi sau chiếc xe ôtô 4 chỗ cách khoảng 5-7m và phát hiện xe ôtô 4 chỗ giảm tốc độ đột ngột. T đạp phanh để tránh va chạm. Do không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi trời mưa đường trơn ướt nên khi T đạp phanh thì xe trôi về phía trước. Sợ va chạm với đuôi xe ô tô phía trước nên T đã đánh lái cho xe đi vào phần đường xe thô sơ bên phải thì lúc đó T quan sát thấy bà Phạm Thị S đang đi xe đạp ngược chiều trên phần đường dành cho xe thô sơ bên phải hướng Lạc Quần-Nam Định (theo T khai bà S đi cách mép đường phải khoảng 20cm). T tiếp tục đạp phanh thì xe ô tô vẫn trôi về phía trước, đuôi xe ô tô quay ngược về phía Nam Định chếch sang phía mép đường trái, đầu xe ô tô quay ngược về phía Lạc Quần chếch sang phía mép đường phải. Phần đầu xe ô tô bên lái đã xô vào xe đạp của bà S đẩy xe đạp và bà S lên vỉa hè bên phải theo hướng Lạc Quần - Nam Định. Hậu quả bà S bị ngã ra đường được đưa đi cấp cứu thì bị chết.
Bản giám định số 474/GĐKTHS ngày 05/6/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Nạn nhân Phạm Thị S chết do chấn thương vỡ xương họp sọ, chảy máu nội sọ.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 48/CT-VKS-KSĐT ngày 12 tháng 9 năm 2018 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Đỗ Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65. Điều 38 LBHS, xử phạt Đỗ Quốc T từ 12 -15 tháng tù nhưng cho hưởng treo thử thách từ 24 - 30 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai lưu trong hồ sơ vụ án. Người đại diện của bị hại xác nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường 150.000.000đ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, về hình phạt đề nghị HĐXX xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã xâm phạm tới quy định về an toàn giao thông đường bộ - Là khách thể được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Cụ thể: Bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ (đi không đúng phần đường) đây là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ như: Sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; kết luận giám định; Biên bản ghi lời khai người làm chứng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng do cẩu thả bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Từ những nhận định trên đây – HĐXX thấy đã có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông khi tham gia giao thông của bị cáo Đỗ Quốc T dẫn đến việc bà S tử vong đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS.
Việc VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS tại bản Cáo trạng số 48/ CT-VKS-KSĐT ngày 12 tháng 9 năm 2018, là có căn cứ, đúng pháp luật .
Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp pháp lý hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới các tình tiết: Bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương); Bị hại cũng một phần có lỗi, người đại diện của bị hại có đề nghị miễn TNHS cho bị cáo - để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước vừa đảm bảo tác dụng giáo dục bị cải tạo bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng - Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS - HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần tuyên một mức hình phạt để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra xác định: Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông trên có 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen dựng sát mép đường phải theo hướng Lạc Quần - Nam Định trước cửa hàng sửa chữa mua bán điện thoại di động của anh Đinh Văn S - SN: 1979 ở đội 2 xã L, huyện T, tỉnh Nam Định là xe của một thanh niên vào cửa hàng của anh S mua thẻ điện thoại di động. Sau khi xảy ra tai nạn chiếc xe mô tô trên bị đổ sát mép đường bên phải cạnh bánh xe phía trước bên lái của xe do T điều khiển. Sau đó người thanh niên đã dựng xe đi về hướng thành phố Nam Định. Cơ quan CSĐT Công an huyện đã xác minh truy tìm nhưng không xác định được.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ . Đại diện gia đình bà S đã nhận đủ số tiền trên. Người đại diện của người bị hại không có yêu cầu về dân sự nào khác nên không xem xét.
Về vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô BKS 88C - 07263 quá trình điều tra xác định là xe của anh Trần Ngọc T - SN: 1991 ở xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh đã trả lại cho anh Trần Ngọc T.
Xét thấy việc xử lý vật chứng của CQCSĐT là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc T 12 ( Mười hai ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Ngày 16 tháng 10 năm 2018).
Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí Hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Quốc T phải nộp 200.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc hoặc được tống đạt Bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật .
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định + huyện Trực Ninh; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã B; - Bị cáo, Đại diện bị hại; - Hồ sơ vụ án; - Lưu: VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chu Thái Hà |