- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị T - Bùi Anh Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị T ly hôn anh Bùi Anh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/HNGĐ-ST Ngày 28-11-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, TP.HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính
Bà Bùi Thùy Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang, Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 227/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2018 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1000/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1055/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19/11/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T
Địa chỉ: Tổ T 2, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Anh Đ
Địa chỉ: Tổ Đ 3, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16-10-2018 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn là chị Bùi Thị T trình bày: Chị và anh Bùi Anh Đ kết hôn với nhau tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống tại nhà chồng ở Tổ Đ 3, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, thời gian đầu hòa thuận, đển tháng 6 năm 2018 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Mặt khác do anh Đ không chịu làm ăn, ham chơi, không quan tâm, lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ vợ con, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả và mâu thuẫn vẫn xảy ra và ngày càng căng thắng hơn. Do mâu thuẫn căng thẳng vợ chồng chị đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau, chị và con chung là Bùi Đức P về sống với bố mẹ chị tại Tổ T 2, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng còn anh Đ sống tại tổ Đ 3, phường V, quận K. Đến nay, mâu thuẫn giữa chị và anh Đ đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Bùi Anh Đ có 01 con chung là Bùi Đức P, sinh ngày 13-3-2017. Khi ly hôn chị nhận trực tiếp nuôi con chung là Bùi Đức P đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Bùi Anh Đ đã được Tòa án tống Đ hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giải quyết cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Bùi Anh Đ. Về con chung: Giao con chung là Bùi Đức P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung do chị T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Anh Bùi Anh Đ hiện đang cư trú tại tổ Đ 3, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Do đó, vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn là anh Bùi Anh Đ: Anh Bùi Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Anh Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Bùi Anh Đ kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, quận K, thành phố Hải Phòng ngày 25 tháng 4 năm 2017, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Lời trình bày của chị Bùi Thị T và tài liệu, chứng cứ xác minh thể hiện mâu thuẫn vợ, chồng chị T, anh Đ đã phát sinh do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Do mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng chị T đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2018, không thể đoàn tụ được. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị T và anh Bùi Anh Đ đã trầm trọng và kéo dài, đời sống chung thực tế đã không tồn tại, mục đích hôn nhân không Đ được, yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, được chấp nhận.
Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Bùi Anh Đ có 01 con chung là Bùi Đức P, sinh ngày 13-3-2017. Lời khai của chị Bùi Thị T và tài liệu, chứng cứ xác minh thể hiện: Chị Bùi Thị T hiện đang trực tiếp nuôi con chung là Bùi Đức P. Hiện nay cháu P chưa đủ 36 tháng tuổi, để đảm bảo cho cháu P phát triển một cách tốt nhất, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Bùi Đức P cho chị Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Đây cũng là quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tại phiên tòa.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 , Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị T ly hôn anh Bùi Anh Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là Bùi Đức P, sinh ngày 13-3-2017 cho chị Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ do chị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010269 ngày 19-10-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Bùi Anh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận K; - THA quận K. - UBND phường V, K, Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: VT, HCTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thông |