vanban.org

Bản án 51/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Điều 28, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: cho nguyên đơn Nguyễn Ngọc A được ly hôn với bị đơn Đinh Thị Thu T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc A - Đinh Thị Thu T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Điều 28, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THUỶ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 51/2018/HNGĐ-ST
Ngày 04/10/2018
Vụ án:”T/c ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

- Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Nhân

2. Ông Nguyễn Việt Thành

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh

Phương –Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ.

Ngày 04 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 352/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 388/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1980; cư trú thôn NT , xã NH, huyện HL, tỉnh Ninh Bı̀nh.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Thu T, sinh năm 1981; cư trú số 18/20/11A, đường LHP, khu vực 3, phường TA, quận BT, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 8 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Nguyễn Ngọc A trình bày:

Ông và bà Đinh Thị Thu T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2002. Vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, không có sự hòa hợp về tính cách, về quan điểm sống. Những mâu thuẫn đó tuy không lớn nhưng kéo dài hơn mười mấy năm làm cho tình cảm của vợ chồng dần phai nhạt. Sau khi suy nghĩ kỹ, ông nhận thấy không thể tiếp tục xây dựng gia đình hạnh phúc được nữa nên yêu cầu xin ly hôn.

Ông và bà Thu T có 03 (ba) con chung là Nguyễn Ngọc A (nữ), sinh ngày 10/01/2003, Nguyễn Thị Ngọc A (nữ), sinh ngày 28/3/2005, Nguyễn An B (nữ), sinh ngày 29/4/2011. Ông giao con chung cho bà Thu T nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con.

Ông không yêu cầu giải quyết phần tài sản chung của vợ chồng.

Hiện nay, ông đang làm việc ở xa nhà nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo luật định.

Phần trình bày ý kiến của bị đơn:

Bà Đinh Thị Thu T thống nhất phần trình bày của ông Ngọc A về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung. Bà đồng ý ly hôn với ông Ngọc A vì vợ chồng đã không còn tình cảm, không còn quan tâm nhau từ năm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/7/2002 của Ủy ban nhân dân xã NH, huyện HL, tỉnh Ninh Bình xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất rằng tình cảm vợ chồng đã không còn hạnh phúc từ nhiều năm nay. Nguyên nhân không hạnh phúc bắt nguồn từ việc nguyên đơn đi làm xa nhà nên không còn quan tâm đến gia đình. Từ đó, tình cảm vợ chồng không còn như trước, không nói chuyện, không quan tâm, không lo lắng cho nhau nữa. Xét thấy mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc của các đương sự không còn nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Các đương sự thống nhất bị đơn sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và nguyên đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức nên công nhận.

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: - Điều 28, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 89, 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên án:

Về quan hệ hôn nhân: cho nguyên đơn Nguyễn Ngọc A được ly hôn với bị đơn Đinh Thị Thu T.

Về con chung: bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung Nguyễn Ngọc A (nữ), sinh ngày 10/01/2003, Nguyễn Thị Ngọc A (nữ), sinh ngày 28/3/2005, Nguyễn An B (nữ), sinh ngày 29/4/2011 cho đến khi 03 con chung đủ 18 tuổi. Bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho nguyên đơn, không ai được quyền ngăn cản.

Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số 009422 ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ thành án phí; nguyên đơn đã nộp xong án phí.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 04/10/2018, n đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ