- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2018/HNGĐ-ST Ngày 10-10-2018 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quyết
- Bà Phạm Thị Khanh
-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Lê Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32 /2018/QDDS-ST ngày 20-9-2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th; nơi cư trú: Xóm 7, Q Kh, xã V Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh T; nơi cư trú: Xóm 8, Q Kh, xã V Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị và anh Nguyễn Mạnh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng vào ngày 20-3-2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 12 năm 2017, vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức Bình, sinh ngày 11-3-2016. Trường hợp ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh T.
Về tài sản chung: Chị xin tự giải quyết với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai anh Nguyễn Mạnh T xác nhận về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện kết hôn như chị Th trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị Th đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 11 năm 2017, vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị Th xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh xác nhận về con chung như chị Th trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị Th.
Về tài sản chung: Anh và chị Th không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật; bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức Bình, sinh ngày 11-3-2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung tự giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Mạnh T đang cư trú tại Xóm 8, xã V Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Mạnh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Mạnh T hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Chị Nguyễn Thị Th có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Nguyễn Mạnh T và chị Nguyễn Thị Th.
. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Mạnh T phát sinh từ ngày 20-3-2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị Th yêu cầu được ly hôn. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng hiện đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức Bình, sinh ngày 11-3-2016. Ly hôn anh chị thỏa thuận giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thỏa thuận trên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con của chị Th và anh T. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết.
.Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,
Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh T.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức Bình, sinh ngày 11-3-2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị xin tự giải quyết, không xét giải quyết.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Thoa đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số 01025 ngày 22-5-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị Th đã nộp đủ án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Vĩnh Bảo; - THADS huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã Vĩnh Phong, Vĩnh Bảo, Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Vinh |