vanban.org

Bản án 51/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Diễm H với anh Nguyễn Phi L.

Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Bảo L, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 cho anh Nguyễn Phi L tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Diễm H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình chị Nguyễn Thị Diễm H phải nộp 300… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm Hương với Nguyễn Phi Long"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Diễm H với anh Nguyễn Phi L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2018/HNGĐ-ST
Ngày 22-5-2018
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Châu Hoàng Huy

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đà Lạl, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 78/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1992 (có mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 1, thị trấn U Minh, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ cư trú: Ấp 12, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Phi L, sinh năm 1992 (xin vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị trấn U Minh, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 3 năm 2018, tại bản tự khai ngày 02 tháng 5 năm 2018 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm H trình bày: Năm 2012 chị và anh Nguyễn Phi L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn U Minh, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và anh L có hành vi đánh cha ruột của chị. Do đó chị thấy không còn tình cảm với anh L nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Phi L.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Bảo L, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 hiện con chung đang sống cùng với gia đình anh L. Sau khi ly hôn chị đồng ý để con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 11 tháng 5 năm 2018 bị đơn anh Nguyễn Phi L trình bày: Anh thống nhất về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, có 01 người con chung, nguyên nhân mâu thuẫn, không có tài sản chung và nợ chung. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn, về con anh đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng, về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, Anh L đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Diễm H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Phi L cư trú: khóm 1, thị trấn U Minh, huyện U Minh là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Phi L có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L.

2. Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn U Minh, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa chị H và anh L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa chị H cương quyết yêu cầu ly hôn với anh L, tại bản tự khai khai ngày 11 tháng 5 năm 2018 anh L đồng ý ly hôn với chị H. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn với anh L.

Về con chung: Quá trình chung sống chị H với anh L có 01 người con chung tên Nguyễn Bảo L, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 hiện con chung đang sống cùng với gia đình anh L. Sau khi ly hôn chị đồng ý để con chung sống với anh L, tại bản tự khai ngày 11 tháng 5 năm 2018 anh L đồng ý trực tiếp nuôi con. Xét thấy sự thỏa thuận của chị H với anh L là phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Bảo L sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H với anh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và đình sơ thẩm chị H phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Diễm H với anh Nguyễn Phi L.

Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Bảo L, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2013 cho anh Nguyễn Phi L tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Diễm H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình chị Nguyễn Thị Diễm H phải nộp 300.000 đồng, ngày 12 tháng 3 năm 2018 chị Nguyễn Thị Diễm H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011849 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, chuyển thu án phí.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Án xử sơ thẩm chị Nguyễn Thị Diễm H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Phi L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ