- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2017/HSST Ngày 27-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Tài Sử.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Phong và Ông Bùi Xuân Vấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hải Thịnh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2017/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2017 đối với:
Bị cáo Nguyễn Tấn C (tên gọi khác: C đ), sinh năm 1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKHKTT: thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đăk Lăk; tạm trú: thôn Q, xã S, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá 6/12; con ông Nguyễn Tấn M (đã chết) và bà Lê Thị T, hiện cư trú tại thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đăk Lăk; có vợ Nguyễn Thị Hồng L - sinh năm 1997, có 01 con sinh năm 2016; vợ, con trú tại: thôn Q, xã S, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; bị bắt tạm giam ngày 31-5-2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đăk Nông – có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: anh Trần Bảo T; trú tại: thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hồ Văn P; trú tại: thôn Q, xã N, huyện R, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Công N; trú tại: tổ H, phường N, thị xã G, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Chị Bùi Vũ Mộng H, trú tại: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Đỗ Duy T, trú tại: thôn B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.
3. Anh Trần Bình T; trú tại: thôn T, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20h ngày 26-5-2017, Đinh Văn Đ, trú tại thôn Q, xã S, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông điều khiển xe ô tô bán tải hiệu Ford, biển kiểm soát 47C-000.00 chở Nguyễn Tấn C trú cùng thôn đi từ xã S ra thị xã G. Đến km 27, xe của Đ điều khiển gặp xe ô tô tải màu trắng không rõ biển kiểm soát đi theo hướng ngược chiều lấn đường làm Đ mất lái đâm vào gốc cây thông bên đường làm xe ô tô bị hư hỏng phần đầu. Do xe này không dừng lại nên C điện thoại cho em trai Nguyễn Tấn H và Phạm Văn S với mục đích đón đường chặn chiếc xe tải nêu trên. C đi nhờ xe (không rõ xe ai) đuổi theo, còn Đ gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Văn D đến chở đuổi theo tìm xe tải. Sau khi nghe điện thoại của C, H đi đến đoạn đường phía trước cửa hàng thu mua chanh dây T T thuộc Bon B, xã S, huyện Đ, Đăk Nông đứng đợi, còn S điều khiển xe máy hiệu Sirius chở bạn gái là Lê Thị D đi tìm gặp H. Khi H đứng đợi tại địa điểm nêu trên thì thấy xe ô tô tải BKS 48C-000.00 do anh Trần Bảo T điều khiển và phụ xe là Trần Bình Th, trú cùng thôn T, xã N, huyện R, Đăk Nông, từ hướng thị xã G vào Quảng Phú nên chặn lại. Cùng lúc đó C, Đ, S, D cũng vừa chạy đến, C tưởng xe này chính là xe đã gây tai nạn cho xe của mình trước đó nên C chặn lại và leo lên phía cửa tài xế quát tháo yêu cầu anh T, anh Th xuống xe nhưng thấy đông người và không biết lý do bị chặn xe nên anh T, anh Th chốt cửa xe không dám xuống. Thấy vậy C tức giận nhặt 01 miếng gỗ ở ven đường kích thước 11 x 15 x 4cm ném và đập vào cánh cửa xe làm vỡ kính và làm móp 3 vết vùng cửa xe bên tài. Sau đó C dùng tay kéo anh T, anh Th xuống đường rồi cùng với Đ, S, H dùng tay, chân đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt của anh T, anh Th.
Hiện trường vụ án là khu vực đường nhựa thuộc QL 28 và sân đất của cơ sở thu mua chanh dây T T thuộc địa phận bon B, xã S, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Tại hiện trường có 01 xe ô tô tải nhãn hiệu WOHO sơn màu xanh, biển kiểm soát 48C-000.00, cạnh bánh trước bên trái của xe có nhiều mảnh vỡ kính xe ô tô không rõ hình thù nằm rơi vãi trên đường. Tại khu vực gác chân lên xuống của xe ô tô và phần rãnh cửa bên trái xe ô tô có nhiều mảnh vỡ bám dính. Phần kính chắn gió của xe ô tô bị vỡ hoàn toàn, phần đệm cao su giữa kính và khung cửa rơi ra khỏi vị trí ban đầu. Trên bề mặt cửa xe bên trái có vết lõm kích thước 4 x 4cm, sâu 0,1cm; tại khu vực phần viền khung cửa kính chắn gió cửa xe bên trái có 02 vết lõm liền nhau, vết thứ nhất kích thước 3x7cm, sâu 0,5cm, vết thứ 2 cách vết thứ nhất 2cm kích thước 3x0,5cm, sâu 0,5cm; phần ốp đế kính chiếu hậu bên trái của xe ô tô rời hẳn khỏi cửa xe để lộ các chi tiết bên trong. Mở rộng hiện trường vào khu vực sân đất tại vị trí cách lề phải đường nhựa 1,73m phát hiện 01 áo thun màu đỏ đen đã qua sử dụng; cách lề đường phải 4,24m phát hiện 01 mảnh gỗ khô màu xám đen kích thước 11x15x4cm, cách lề đường phải 3,36m phát hiện 01 đôi dép tông quai đỏ, đế đen đã bị tuột quai.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 01-6-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị tài sản bị thiệt hại là 2.900.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Nguyễn Tấn C đã chủ động bồi thường cho anh Nguyễn Công Ng là chủ xe số tiền 1.900.000 đ nên anh Ng không yêu cầu bồi thường thêm.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: 01 miếng gỗ kích thước 11x15x4cm màu xám đen, 01 áo thu màu đỏ đen, 20 mảnh vỡ không rõ hình dạng của kính chắn gió của xe ô tô, 01 đôi dép tông quai màu đỏ đế đen, 2 thanh kiếm (dạng kiếm Nhật).
Cáo trạng số 51/CTr-VKS-P3 ngày 07-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông truy tố Nguyễn Tấn C, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo khoản 1 Điều 143 của BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi hủy hoại tài sản đối với xe ô tô tải nhãn hiệu WOHO màu xanh, biển kiểm soát 48C-000.00 là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 BLHS năm 1999; Điều 33 BLHS xử phạt bị cáo C thời hạn phạt tù bằng thời hạn tạm giam; trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy: 01 miếng gỗ kích thước 11x15x4cm màu xám đen, 01 áo thu màu đỏ đen, 20 mảnh vỡ không rõ hình dạng của kính chắn gió của xe ô tô, 01 đôi dép tông quai màu đỏ đế đen, 2 thanh kiếm.
Bị cáo không bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
[1] Về hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Tấn C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 của BLHS 1999 là đúng người, đúng tội, không oan.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn C đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 143 của BLHS năm 1999.
Khoản 1 Điều 143 của BLHS 1999 quy định:
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn C là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã gây thiệt hại về tài sản của người khác đang sở hữu được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức được các hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do bực tức cho rằng chiếc xe ô tô do anh Trần Bảo T điều khiển lấn đường làm xe của bị cáo tránh và mất lái đâm vào gốc cây tự gây tai nạn nên bị cáo đã gọi điện cho em trai và một số người khác trợ giúp chặn xe của anh Trần Bảo T đang lưu thông trên đường, đồng thời có hành vi đập phá xe do anh T điều khiển gây thiệt hại về tài sản trị giá 2.900.000 đồng.
Theo khoản 1 Điều 178 về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” của BLHS năm 2015, hành vi làm hư hỏng tài sản từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Căn cứ Nghị Quyết số 109/2015/QH 13 ngày 27-11-2015 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định của BLHS năm 2015 có lợi cho người phạm tội được áp dụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
[3] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 1.900.000 đồng và người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Kết hợp các tình tiết định khung, các tình tiết giảm nhẹ; căn cứ Nghị Quyết số 109/2015/QH 13 ngày 27-11-2015 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, cần áp dụng Điều 47 của BLHS năm 1999 xử phạt bị cáo C thời hạn phạt tù bằng thời hạn tạm giam theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng có tác dụng cải tạo bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tấn C đã tự nguyện bồi thường tiền sửa chữa tài sản bị hư hỏng trị giá 1.900.000 đồng và được anh Nguyễn Công Ng chấp nhận và làm đơn không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra để giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 miếng gỗ màu xám đen, 01 áo thun, 20 mảnh vỡ của kính chắn gió xe ô tô, 01 đôi dép tông, 02 thanh kiếm đặc điểm của các vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông ngày 11-9-2017 xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Về án phí: bị cáo Nguyễn Tấn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS năm 1999; khoản 1 Điều 178 của BLHS năm 2015; Nghị Quyết số 109/2015/QH 13 ngày 27-11-2015 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 33 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn C 03 tháng 27 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 31-5-2017. Căn cứ khoản 5 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Hình Sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Tấn C tại phiên tòa.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 76 của BLTTHS; Điều 41 BLHS:
Tịch thu để tiêu hủy 01 miếng gỗ màu xám đen, 01 áo thun, 20 mảnh vỡ của kính chắn gió xe ô tô, 01 đôi dép tông, 02 thanh kiếm (đặc điểm của các vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông ngày 11-9-2017).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 99 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí; bị cáo Nguyễn Tấn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng HSNVCS - CA tỉnh Đắk Nông; - CQCSĐT - CA tỉnh Đắk Nông; - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; - Trại tạm giam CA tỉnh Đắk Nông; - Bị cáo; - Bị hại; - Những người tham gia tố tụng; - Tổ HCTP, lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký, đóng dấu) Nguyễn Tài Sử |