- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2017/HSST Ngày: 04-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Thà;
2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Kính, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2017 tại văn phòng Khu phố A, thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2017/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2017/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh n¨m 1990 t¹i tØnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện B, tØnh T©y Ninh; số CMND: 291013861; nghÒ nghiÖp: Lµm m ín; tr×nh ®é văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; con ông Trần Minh T và bà Phạm Thị P; có vợ là Trần Như P và một người con sinh năm 2015; tiÒn sù, tiÒn ¸n: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2017 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Anh Võ Văn P, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp X, xã P, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 25/02/2017, bị cáo Trần Văn H đến nhà Võ Văn P để uống rượu, bia (nhậu) cùng với P và Nguyễn Duy N. Trong lúc ngồi nhậu, anh P và bị cáo H xảy ra mâu thuẫn dẫn tới cự cãi, lớn tiếng. P vào nhà lấy một cây xà beng bằng sắt dài 55cm quơ trúng nhẹ một cái vào vai trái của H. Lúc này, H và N bỏ chạy, P đuổi theo nhưng không kịp nên quay lại đập vào xe mô tô của H, N thấy vậy nên lấy xe về trước, H điện thoại cho bố vợ là ông Trần Văn V đến lấy xe H về, P vào nhà dọn dẹp, cho heo ăn rồi đi tắm thì bị H cầm cây rựa (dài 50cm, phần lưỡi dài 25cm) chém một cái trúng vào mang tai phải làm P té xuống đất. H tiếp tục chém trúng mu bàn tay trái, vai phải của P. Lúc này, P vào nhà lấy được một con dao (dài 35cm, phần lưỡi dài 25cm) quay ra chém trúng 01 cái vào đầu trên cánh tay trái của H, H tiếp tục chém P trúng một cái ở cẳng tay phải, 01 cái ở hố chậu phải, 01 cái ở vùng mông phải gây thương tích. Khi ông V đến thấy H cầm rựa, P cầm dao đang chém qua lại nên la lên kêu mọi người đến can ngăn. Ông V chạy vào lấy dao, rựa ném vào gốc cao su cặp đường rồi ôm H ra trước nhà. Sau đó, bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn L là hàng xóm nghe thấy chạy sang thì thấy P đang trong tình trạng không mặc quần áo, trên người có nhiều vết thương nên mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Tây Ninh đến ngày 03/3/2017 thì xuất viện.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn H đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 93/2017/TgT ngày 26/4/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Tây Ninh đã kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Võ Văn P do thương tích gây nên hiện tại là 17%.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 91/2017/TgT ngày 26/4/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Văn H do thương tích gây nên hiện tại là 08%.
* Vật chứng vụ án:
- Một cây rựa chiều dài 50cm (chiều dài lưỡi rựa 25cm);
- Một cây dao chiều dài 35cm (chiều dài lưỡi dao 25cm);
- Một cây sắt (cây xà beng) chiều dài 55cm.
* VÒ båi th êng thiÖt h¹i: Bị hại Võ Văn P đã nhận số tiền 13.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm.
* Đối với Võ Văn P dùng cây xà beng và dao đánh, chém Trần Văn H gây thương tích 08%. Ngày 21/3/2017, Trần Văn H làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Văn P về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 58/QĐ/KSĐT ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn H vÒ téi “Cố ý gây thương tích” theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 2 Điều 104 thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104, điểm b, đ, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 10 giờ ngày 25/02/2017, trong lúc đang ngồi nhậu tại nhà của anh Võ Văn P thuộc ấp X, xã P, huyện B, tỉnh Tây Ninh bị cáo Trần Văn H và anh Võ Văn P xảy ra mâu thuẫn. Anh P dùng cây sắt (cây xà beng) quơ trúng nhẹ vào vai trái bị cáo H. Bị cáo H bỏ chạy, anh P đuổi theo không kịp nên quay lại đập vào xe bị cáo H. Sau đó, anh P vào nhà dọn dẹp, cho heo ăn rồi đi tắm thì bị bị cáo Trần Văn H dùng cây rựa (dài 50cm phần lưỡi dài 25cm) chém gây thương tích cho anh P với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17% nên hành vi của bị cáo Trần Văn H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Hung khí bị cáo H dùng để chém và gây thương tích cho anh P là một cây rựa (dài 50 cm, phần lưỡi dài 25 cm) là hung khí nguy hiểm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm”. Do đó, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm nghiêm trọng đến khách thể quan trọng là quyền được bảo vệ sức khỏe của con người, đồng thời gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và ngăn ngừa hành vi cố ý gây thương tích diễn ra phổ biến trên địa bàn huyện trong thời gian gần đây nói riêng.
Do đó, Cáo trạng số 58/QĐ/KSĐT ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn H vÒ téi “Cố ý gây thương tích” theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 2 thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền thuốc và điều trị vết thương 13.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả; về nhân thân bị cáo chưa có tiền án; tiền sự và bị hại làm đơn đề nghị không khởi tố vụ án đối với bị cáo; về nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội là do bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do đó, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Đối với hành vi cố ý gây thương tích được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. Tuy nhiên tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 hành vi cố ý gây thương tích có khung hình phạt từ hai năm đến năm năm tù là nhẹ hơn Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) do đó theo Hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 làm căn cứ để quyết định hình phạt đối với hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Trần Văn H.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Văn H và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Võ Văn P số tiền thuốc và chi phí điều trị vết thương là 13.000.000 đồng và anh Võ Văn P không yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) cây rựa chiều dài 50cm (chiều dài lưỡi rựa 25cm);
- Đối với 01 (một) cây dao chiều dài 35cm (chiều dài lưỡi rựa 25cm); 01 (một) cây sắt (cây xà beng) chiều dài 55cm, là công cụ bị cáo H và anh Võ Văn P dùng vào việc gây thương tích cho nhau, do không có giá trị lớn nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định tại Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 14/6/2017.
2. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Văn H và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Võ Văn P số tiền thuốc và chi phí điều trị vết thương là 13.000.000 (mười ba triệu) đồng và anh Võ Văn P không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tuyên bố tịch thu tiêu hủy:
+ Một cây dao chiều dài 35cm (chiều dài lưỡi rựa 25cm);
+ Một cây sắt (cây xà beng) chiều dài 55cm;
+ Một cây rựa chiều dài 50cm (chiều dài lưỡi rựa 25cm).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn H chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA. TAT; - Sở Tư pháp TN; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.B; - Công an H.B; - Chi cục THADS H.B; - Thi hành án HS; - Bị cáo; - Người tham gia TT; - Hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thọ Cường |