vanban.org

Bản án 505/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 20/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Vũ V, bị cáo Chu Thị Kim N và bị cáo Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Vũ V 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2026. Xử phạt: Chu Thị Kim N 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VŨ V - CHU THỊ KIM N - TRẦN VĂN M - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Vũ V, bị cáo Chu Thị Kim N và bị cáo Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 505/2026/HSST
Ngày: 20/08/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân

Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Phương Mai

Ông Trần Ngọc Thịnh

Thư ký Tòa án: Bà Mai Vũ Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến – Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 451/2026/TLST-HS ngày 14/07/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 848/2026/QĐXXST-HS ngày 23/07/2026 và thông báo dời ngày mở phiên tòa xét xử số 1595/TB-TQ ngày 07/8/2026 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN VŨ V; Sinh năm: 1981; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú: Số 103 H1 T U K, phường N, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: Số 9 ngõ 138 P, phường B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Anh S và bà: Vũ Thị Tuyết P (đã chết); Vợ: Cao Thị Ánh T (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2011; Tiền sự: Tháng 10/2005 UBND quận B ra Quyết định cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm cai nghiện số 4; Tiền án: Bản án số: 139/2013/HSST ngày 13/6/2013 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày: 25/4/2015 (đã xóa án tích); Bản án số: 66/2022/HSST ngày 22/3/2022 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày: 16/3/2024 (đã xóa án tích); Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/3/2026; Có mặt.

2. CHU THỊ KIM N; Sinh năm: 1988; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú: Số 26/27 L1, phường B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Mạnh S1 (đã chết) và bà: Ngô Thị Kim T; Chồng: Nguyễn Đăng H (đã ly hôn); Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 27/3/2026; Có mặt.

3. TRẦN VĂN M; Sinh năm: 1969; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú và nơi ở: Số 21 Đ, phường H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Vợ: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số: 350/2005/HSST ngày 22/12/2005 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày: 24/5/2008 (đã xóa án tích); Bản án số: 177/2014/HSST ngày 21/8/2014 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày: 20/10/2015 (đã xóa án tích); Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 27/3/2026; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 2/2026, Nguyễn Vũ V sinh năm 1981, trú tại Số 9 ngõ 138 P, phường B, thành phố Hà Nội mua ma túy loại Heroin của một người trên mạng xã hội (không biết tên tuổi, địa chỉ) và mua ma túy “đá” của Chu Thị Kim N mục đích để bán.

Khoáng 13h00 phút ngày 24/3/2026, Nguyễn Vũ V đang ở nhà tại số 9 ngõ 138 P, B, thành phố Hà Nội thì được nhận được cuộc gọi qua Zalo của một người quen qua mạng xã hội có tài khoản zalo là “E. A. L” hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”. V đồng ý bán và thỏa thuận giao ma túy tại số 42 T, phường C, Hà Nội. Sau đó, V lấy số ma túy đã mua của N từ trước chia một phần vào túi nilong kích thước 02x02cm đề mang đi bán cho “E. A. L”. Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/3/2026 tổ công tác công an phường C, thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại trước số 49 H, phường C, thành phố Hà Nội phát hiện Nguyễn Vũ V đang đi bộ trên vỉa hè phố H, phường C, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra V đã tự nguyệı giao nộp 01 túi nilong kích thước 02x02cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng và khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy “đá” đang mang đi bán cho khách. Tổ công tác tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa V về trụ sở cơ quan công an giải quyết.

Tang vật thu giữ

Thu giữ của Nguyễn Vũ V:

+ 01 túi nilong kích thước 02x02cm bên trong có chứa tính thể màu trắng

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 plus màu đen, đã qua sử dụng, số imei: 357684130952906.

Khám xét khẩn cấp nhà của Nguyễn Vũ V tại số 9 ngõ 138 P, phường B, thành phố Hà Nội thu giữ 02 túi nilong kích thước 1,5cm x 2cm chứa chất bột màu trắng và 01 túi nilong kích thước 4x6cm chứa tinh thể màu trắng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Vũ V.

Tại Kết luận giám định số 2963/KL - KTHS ngày 03/4/2026, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước 2x2cm có khối lượng 0,321 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 3012/ KL - KTHS ngày 04/4/2026, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước 4x6cm có khối lượng 1,187 gam là ma túy loại Methamphetamine

Chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilong kích thước 1,5x2cm có khối lượng 0,580 gam là ma túy loại heroin.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Chu Thị Kim N đến làm việc.

Thu giữ của Chu Thi Kim N:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Zflip 5 màu trắng, đã qua sử dụng, số imei 353604391054493, kèm 01 sim điện thoại.

Tại cơ quan điều tra, N không thừa nhận việc bán ma túy cho Nguyễn Vũ V nhưng khai nhận hành vi mua bán trái phép cùng Trần Văn M.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 18/3/2026 khi N đang ngồi chơi tại nhà của M tại số 21 Đ, H, Hà Nội thì có bạn xã hội sử dụng ứng dụng zalo “Minh T2” nhắn tin cho N hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy “đá”. N đồng ý bán cho “Minh T2” và bảo “Minh T2” chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản số 878787777 của N mang tên CHU THI KIM NG mở tại ngân hàng MB Bank. Sau khi nhận được tiền N nhờ M liên hệ mua 3.000.000 đồng ma túy “đá”. M sử dụng ứng dụng zalo gọi cho bạn xã hội tên “Dũng” hỏi mua ma túy. M bảo N chuyển tiền mua ma túy cho M. N sử dụng tài khoản số 878787777 của N mang tên CHU THI KIM N mở tại ngân hàng MB Bank chuyển đến tài khoản của M số 3555263335 mang tên TRAN VAN M mở tại ngân hàng TP Bank số tiền 3.200.000 đồng gồm tiền mua ma túy và 200.000 đồng trả nợ cho M. Sau khi nhận được tiền của N, M chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến số tài khoản 0906932139 mở tại ngân hàng số LioBank mang tên PHAM TRUNG D để mua ma túy. Khoảng 15 phút sau 01 nguời đàn ông đeo khẩu trang mang 01 túi nilong chứa ma túy “đá” giao cho M tại gần khu vực số 21 Đ, H, Hà Nội. Nhận được ma túy M mang vào nhà đưa cho N. N chia túi ma túy thành 02 túi nhỏ, 01 túi để bán cho “Minh T2” và 01 túi để N sử dụng. Sau đó N và M cùng cất giấu túi ma túy bán cho “Minh T2” vào món đồ chơi hình siêu nhân đựng trong túi màu xanh, dán băng dính màu vàng ở miệng túi. N sử dụng ứng dụng Xanh SM đặt xe ôm công nghệ của anh Tô Xuân T3 (sinh năm 1983, Địa chỉ: số 87 Y, phường H, Hà Nội ) biển kiểm soát 29K2- 11200 chuyển túi giấy đựng món đồ chơi có cất ma túy đến địa chỉ số 168 ngõ 34 P, phường T, thành phố Hà Nội cho “Minh T2”. Tiến hành xác minh tài khoản zalo “Minh T2”, xác định là Hà Đình T4 (sinh năm 1998, Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Thanh Hóa). Tại cơ quan điều tra, T3 khai: khoảng 17 giờ 40 ngày 18/3/2026 T sử dụng tài khoản zalo “Minh T2” nhắn tin cho Chu Thị Kim N sử dụng tài khoản “Zin” hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy “đá” và T đã nhờ anh Vi Văn D (sinh năm: 2000, Địa chỉ: T, T, Thanh Hóa) đang ngồi uống nước tại khu vực phố L, phường T, Hà Nội chuyển 2.000.000 đồng tiền mua ma túy đến tài khoản số 87878777 của Chu Thị Kim N mở tại ngân hàng MBBank. T3 bảo N giao ma túy tại địa chỉ 168/34 P, Hà Nội. Khoảng 30 phút sau có 01 người đàn ông lái xe hãng Xanh SM giao cho T 01 túi nilong bên trong có ma túy “đá” được đựng bên trong có 01 hình đồ chơi bằng nhựa siêu nhân màu đỏ. Sau khi nhận ma túy, T3 thay đổi ý định không sử dụng nữa mà vứt vào sọt rác bỏ đi.

Cơ quan điều tra đã tiến hành test ma túy với T3. Kết quả âm tính.

Ngày 27/03/2026, Trần Văn M bị bắt giữ. Vật chứng: không thu giữ gì của Trần Văn M.

Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N, Trần Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin chủ tài khoản số 0906932139 mở tại ngân hàng LioBank mang tên Pham Trung D. Kết quả chủ tài khoản là anh Phạm Trung D (sinh năm 1978, Địa chỉ: Số 17 H, Phường H, thành phố Hà Nội). Tiến hành ghi lời khai của D. D khai nhận không sử dụng tài khoản 0906932139 mở tại ngân hàng LioBank mang tên Pham Trung D. Tiến hành cho M nhận dạng D, M xác nhận D không phải là người bán ma túy cho M.

Đối với Vi Văn D: T4 và D khai D không biết việc T4 nhờ chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng cho N để mua ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với D.

Đối với người có tài khoản “E.A. L” cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được con người cụ thế nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với Phạm Trung D, Hà Đình T4: tài liệu đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án không đủ căn cứ đế xem xét xử lý.

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Chu Thi Kim N cho Nguyễn Vũ V, quá trình điều tra N không thừa nhận, tài liệu đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án không đủ căn cứ để xác định Chu Thi Kim N nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy.

Test ma túy đối với V, N và M kết quả: Dương tính.

Bản cáo trạng số 351a/CT-VKS ngày 09/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N và Trần Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/3/2026 tại khu vực trước cửa số nhà 49 H, phường C, Thành phố Hà Nội Nguyễn Vũ V có hành vi mua bán trái phép 0,321 gam là ma túy loại Methamphetamine; Tàng trữ 1,187 gam Methamphetamine và 0,580 gam heroin mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Vũ V có ý định bán là 1,508 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,580 gam ma túy loại heroin. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 18/3/2026 tại số 21 Đ, H, Hà Nội Chu Thị Kim N và Trần Văn M có hành vi mua bán trái phép 2.000.000 đồng tiền ma túy loại “đá” cho Hà Đình T4.

Hành vi của ba bị cáo Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N và Trần Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Hà Nội tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N và Trần Văn M về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251, điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 17, điều 58 của Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị xử phạt đối với từng bị cáo như sau:

- Bị cáo Nguyễn Vũ V từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

- Bị cáo Chu Thị Kim N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Bị cáo Trần Văn M từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong dán kín. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Vũ V còn lại sau khi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội trích mẫu giám định; 01 (một) cái cân màu đen kích thước (10x5x3)cm, 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (8x11)cm bên trong có chứa các túi nilong màu trắng kích thước (2x2)cm.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 plus màu đen, đã qua sử dụng, số imei: 357684130952906. (thu giữ của Nguyễn Vũ V);

+ 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Zflip 5 màu trắng, đã qua sử dụng, số imei: 353604391054493, bên trong lắp sim 0898261001 (thu giữ Chu Thị Kim N).

Tại phiên tòa Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N và Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và các bị cáo lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N và Trần Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/3/2026 tại khu vực trước cửa số nhà 49 H, phường C, Thành phố Hà Nội Nguyễn Vũ V có hành vi mua bán trái phép 0,321 gam là ma túy loại Methamphetamine; Tàng trữ 1,187 gam Methamphetamine và 0,580 gam heroin mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Vũ V mua bán là 1,508 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,580 gam ma túy loại heroin nhưng chưa kịp bán thì bị bắt. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 18/3/2026 tại số 21 Đ, H, Hà Nội Chu Thị Kim N và Trần Văn M có hành vi mua bán trái phép 2.000.000 đồng tiền ma túy loại “đá” cho Hà Đình T4. Sau khi nhận ma túy, T4 thay đổi ý định không sử dụng nữa mà vứt vào thùng rác bỏ đi nên không thu giữ được. Hành vi trên đây của Nguyễn Vũ V, Chu Thị Kim N và Trần Văn M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Xét vai trò và nhân thân của từng bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Chu Thị Kim N và bị cáo Trần Văn M là đồng phạm trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo N là người trực tiếp nhận tiền mua ma túy của người mua, chia nhỏ ma túy để bán và chỉ đạo việc giao ma túy cho người mua. Bị cáo M trực tiếp liên hệ với người bán để mua ma túy, đưa ma túy cho N để bán, đồng thời cùng N cất giấu và chuẩn bị ma túy để bán cho người mua. Do đó, N và M có sự thống nhất ý chí, cùng thực hiện hành vi phạm tội; xét về vai trò trong vụ án, hai bị cáo có vai trò tương đương nhau.

Đối với bị cáo V, mặc dù cùng bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo V được thực hiện độc lập, không có sự bàn bạc, thống nhất ý chí và không cùng thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo N và bị cáo M. Vì vậy, bị cáo V không phải là đồng phạm với N và M, mà phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi mua bán trái phép chất ma túy do mình thực hiện.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cá thể hóa hình phạt. Mặc dù N và M có vai trò tương đương trong việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng bị cáo N là con thương binh, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nên cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo N thấp hơn bị cáo M. Bị cáo V chưa giao được ma túy cho người mua nên áp dụng điều 57 Bộ luật hình sự 2015 phạm tội chưa đạt đối với bị cáo V. Do vậy, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 57 Bộ luật hình sự 2015 để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra các bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự. Song xét thấy các bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 1,508 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,580 gam ma túy loại Heroin.

- Đối với 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (8x11)cm bên trong có chứa các túi nilong màu trắng kích thước (2x2)cm, các bị cáo đã sử dụng để cất giấu ma túy nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 plus màu đen, đã qua sử dụng, số imei: 357684130952906. (thu giữ của Nguyễn Vũ V); 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Zflip 5 màu trắng, đã qua sử dụng, số imei: 353604391054493, bên trong lắp sim 0898261001 (thu giữ Chu Thị Kim N), các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Vũ V, bị cáo Chu Thị Kim N và bị cáo Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Vũ V 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2026.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Chu Thị Kim N 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2026.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Văn M 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2026.

- Căn cứ Điều 106, 135, khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong dán kín. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Vũ V còn lại sau khi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội trích mẫu giám định; 01 (một) cái cân màu đen kích thước (10x5x3)cm, 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (8x11)cm bên trong có chứa các túi nilong màu trắng kích thước (2x2)cm (theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/7/2026 tại Kho vật chứng Phân trạm tạm giam Đ).

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Vũ V: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 plus màu đen, đã qua sử dụng, số imei: 357684130952906; (theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/7/2026 tại Kho vật chứng Phân trạm tạm giam Đ).

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Chu Thị Kim N: 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Samsung Zflip 5 màu trắng, đã qua sử dụng, số imei: 353604391054493, bên trong lắp sim 0898261001, đã qua sử dụng (theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/7/2026 tại Kho vật chứng Phân trạm tạm giam Đ).

- Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ