vanban.org

Bản án 505/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Cẩm K.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Cẩm K được ly hôn với bà Trương Mỹ L. Quan hệ hôn nhân giữa ông K và bà L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 020/2012 do Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/4/2012 chấm dứt kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về quan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Cẩm K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 505/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Thức

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ L

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa : Bà Phạm Thị Diệu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1040/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 401/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lương Cẩm K – sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Bà Trương Mỹ L – sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ hộ khẩu thường trú: Căn hộ số 08 ABC, Chung cư Topaz Garden, số 4 Trịnh Đình Thảo, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đ ngày 07/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lương Cẩm K tr nh ày:

Ông và bà Trương Mỹ L tự nguyện chung số với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 020, ngày 07/4/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, có nhiều bất đồng trong quan điểm dẫn đến phát sinh những mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Cả hai đã nỗ lực hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai bên sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay ông nhận thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn à Trương Mỹ L có lời khai thể hiện:

Bà và ông Lương Cẩm K quen biết nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2012 có tiến đến hôn nhân vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 020, ngày 07/4/2012. Sau thời gian chung sống, bà và ông K có phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Từ năm 2016 cho đến nay, bà và ông K đã sống ly thân, cả hai đã không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng rạn nức, mục đích hôn nhân không đạt, bà đồng ý ly hôn với ông K.

Về quan hệ con chung: Hai bên khai có 01 con chung tên Lương Hoằng Q, sinh ngày 18/5/2012. Khi ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà L đồng ý.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

Ông K và bà L cùng có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết : Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp về ly hôn. Do bị đơn cư trú tại quận Tân Phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Thời hạn tố tụng: Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, kiến nghị rút kinh nghiệm.

Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án : Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn. Căn cứ lời khai và các chứng cứ thu thập được thể hiện vợ chồng ông K, bà L chung sống với nhau có xảy ra mâu thuẫn. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông K yêu cầu ly hôn, bà L cũng đồng ý. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu xin ly hôn của ông K là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ con chung : Hai bên khai có 01 con chung tên Lương Hoằng Q, sinh ngày 18/5/2012. Khi ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà L đồng ý. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông K, bà L không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện của ông Lương Cẩm K, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn”. Do bà L hiện đang cư ngụ tại quận Tân Phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Ông K, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông K, bà L.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 020/2012 do Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/4/2012, thì quan hệ hôn nhân giữa ông Lương Cẩm K và bà Trương Mỹ L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Ông K nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà L.

Căn cứ vào các chứng cứ, lời khai của ông K, bà L, các tài liệu thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, thể hiện thời gian vợ chồng ông K, bà L chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Hiện ông K, bà L đã sống ly thân, mỗi người tự lo cuộc sống của mình không quan tâm chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông K, bà L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông K yêu cầu được ly hôn với bà L và bà L cũng đồng ý. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu xin ly hôn của ông K là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Hai bên khai có 01 con chung tên Lương Hoằng Q, sinh ngày 18/5/2012. Khi ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà L đồng ý. Trẻ Q hiện đang sinh sống cùng ông K và có nguyện vọng được ở với cha. Do đó để tránh xự xáo trộn về tâm lý cũng như nơi ở của trẻ. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của ông K là có cơ sở để chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông K, bà L không yêu cầu giài quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng ông K chịu nhưng được trừ vào số tiền ông K đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Cẩm K.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Cẩm K được ly hôn với bà Trương Mỹ L. Quan hệ hôn nhân giữa ông K và bà L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 020/2012 do Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/4/2012 chấm dứt kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về quan hệ con chung: Giao con chung là trẻ Lương Hoằng Q, sinh ngày 18/5/2012 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà L do ông K chưa có yêu cầu.

Bà L có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Ông K cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp bà L lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà L.

Trong trường hợp ông K không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, bà L hoặc người thân thích, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên xác nhận không có.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đồng ông Lương Cẩm K chịu được trừ vào số tiền 300.000đồng mà ông K đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0036331 ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ