vanban.org

Bản án 505/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Trường T và sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Võ Trường T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Trường Thanh - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Trường T và sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 505/2022/HS-PT
Ngày: 05-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng

Các Thẩm phán:

1. Ông Vũ Văn Lệ

2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 405/2022/HSPT ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Võ Trường T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 175/2022/HS-ST ngày 05-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo kháng cáo:

Võ Trường T, Giới tính: Nữ; Sinh năm 1983 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số G đường B, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Hoàng V và bà Đào Thị B; Hoàn cảnh gia đình: bị cáo có chồng (đã ly hôn) và có 01 người con (sinh năm 2009); Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 31/3/2021 bị cáo bị Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, bị cáo đã thi hành xong.

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa:

Luật sư Đoàn Trọng N, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, làm việc tại Văn phòng luật sư Đoàn Trọng N bào chữa cho bị cáo Võ Trường T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 10/6/2021, Trần Văn H tổ chức cho các đối tượng chơi đánh bạc bằng hình thức bài cào 06 lá đếm nút tại nhà của H do Nguyễn Thị Cẩm T1 và Lê Thị Trúc P cùng nhau hùn vốn làm cái chia bài cho các đối tượng chơi. Mỗi ván các đối tượng đặt cược từ 50.000 đồng – 200.000 đồng, H thu được tiền xâu là 300.000 đồng. Đến 20 giờ 00 phút cùng ngày, Công an huyện C kiểm tra phát hiện bắt quả tang các đối tượng đang tham gia đánh bạc với P và T1 gồm có: Võ Bích T2; Nguyễn Văn Đ; Nguyễn Thị Hồng N1; Võ Trường T; Nguyễn Văn C; Trần Thúy H1; Trần Thị R; Nguyễn Thị Ngọc L; Tạ Hoàng K và Nguyễn Thị Tố U. Tổng số tiền thu trên chiếu bạc là 3.600.000 đồng.

Qua xác minh, Trần Văn H, Nguyễn Thị Cẩm T1, Lê Thị Trúc P, Võ Bích T2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn C, Trần Thúy H1, Trần Thị R, Nguyễn Thị Ngọc L, Tạ Hoàng K, Ngô Thị Lệ H2 chưa có tiền án, tiền sự, Nguyễn Thị Hồng N1, Nguyễn Thị Tố U, Huỳnh Thị Kim D đã bị xử phạt về hành vi đánh bạc nhưng đã được xóa án tích.

Đối với bị cáo Võ Trường T, ngày 31/3/2021 bị Công an huyện C bắt về hành vi đánh bạc và bị Công an xã T, huyện C lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0032607/QĐ-XPHC ngày 01/4/2021), chưa được xóa tiền sự.

Ngày 06/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi ban hành Cáo trạng số 119/CT-VKS.CC truy tố bị cáo Võ Trường T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 175/2022/HSST ngày 05/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Trường T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Võ Tường T3 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/9/2022 Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 08/9/2022 bị cáo Võ Trường T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Võ Trường T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện, đồng thời bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Võ Trường T, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm Giấy xác nhận bị cáo đã ly hôn, hiện tại bị cáo đang là lao động chính nuôi con sinh năm 2009 và mẹ ruột sinh năm 1964, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; ngoài ra, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm. Với hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt và tuyên bị cáo mức án là 06 tháng tù.

- Luật sư Đoàn Trọng N bào chữa cho bị cáo Võ Trường T đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo. Luật sư chỉ nêu lên các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo, đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là lao động chính nuôi mẹ già, con nhỏ. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm mức án theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, nếu bị cáo phải chấp hành án tù thì không ai chăm sóc mẹ và con của bị cáo, do đó Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng bản thân bị cáo vừa mới bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa quá 03 tháng thì bị cáo lại tiếp tục đánh bạc, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không cho bị cáo hưởng án treo. Ngược lại, về phía Luật sư vẫn giữ nguyên quan điểm bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 10/6/2021, Trần Văn H tổ chức cho các đối tượng chơi bài cào 06 lá đếm nút ăn tiền tại nhà của H, do Nguyễn Thị Cẩm T1 và Lê Thị Trúc P cùng nhau hùn vốn làm cái chia bài cho các đối tượng chơi, mỗi ván các đối tượng đặt cược từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, H thu được tiền xâu là 300.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Công an huyện C kiểm tra phát hiện bắt quả tang các đối tượng đang tham gia đánh bạc với P và T1 gồm có: Võ Bích T2; Nguyễn Văn Đ; Nguyễn Thị Hồng N1; Võ Trường T; Nguyễn Văn C; Trần Thúy H1; Trần Thị R; Nguyễn Thị Ngọc L; Tạ Hoàng K và Nguyễn Thị Tố U. Tổng số tiền thu trên chiếu bạc là 3.600.000 đồng.

Qua xác minh, các đối tượng H, T1, P, T2, Điều, C, H1, R, L, K, H1 chưa có tiền án, tiền sự, còn các đối tượng N1, U, D bị xử phạt về hành vi đánh bạc nhưng đã được xóa án tích.

Riêng đối với Võ Trường T, vào ngày 31/3/2021 đã bị Công an huyện C bắt về hành vi đánh bạc và bị Công an xã T, huyện C lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0032607/QĐ-XPHC ngày 01/4/2021), tính đến ngày 10/6/2021 (ngày có hành vi đánh bạc) nên Võ Trường T vẫn còn tiền sự.

Với các hành vi và nhân thân nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã xét xử bị cáo Võ Trường T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2022 bị cáo Võ Trường T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên hợp lệ để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo. Nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo T chỉ sử dụng số tiền đánh bạc là nhỏ so với định lượng về tội “Đánh bạc”, nhưng do bản thân bị cáo T đã có tiền sự về tội “Đánh bạc”, nên lần vi phạm này bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tình tiết này khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Và tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng và xử phạt bị cáo 09 tháng tù.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có xuất trình thêm Giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn của bị cáo là bị cáo đã ly hôn, hiện tại một mình bị cáo đang nuôi con sinh năm 2009 và mẹ ruột sinh năm 1964, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, nghĩ cũng nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bản thân bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần phải áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, với hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu ở trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo. Điều này phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Trường T và sửa bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Võ Trường T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án;

Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ