vanban.org

Bản án 505/2017/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Nhật Linh P - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 505/2017/HSPT
Ngày: 22/9/2017
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng

- Các Thẩm phán:

1. Ông Trương Công Huấn

2. Ông Huỳnh Văn Trực

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 433/2017/HSPT ngày

08/8/2017 đối với bị cáo Phan Nhật Linh P do có kháng cáo của bị cáo đối với

Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân

dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo kháng cáo:

Phan!Nhật!Linh!P!(tên gọi khác: P1), giới tính: nam; sinh năm: 1991 tại

Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: khu phố A1, phường A2, quận A3, Thành phố

Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Phan Nhật T

và con bà Phan Thị B; hoàn cảnh gia đình: bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền

sự: không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NHẬN!!THẤY:!

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú và bản án

hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/11/2016, Đội Cảnh sát điều tra tội

phạm về trật tự xã hội Công an qu n Tân Phú trên đường tuần tra phát hiện

Nguyễn Minh H, Lê Thành B1, Lê Hoàng V, Trang Nguyễn Khánh T1, Đào

Trọng H1 và một số đối tượng đang tụ tập trước nhà số X đường A4, phường A5, quận A có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở làm việc và các đối tượng này đã khai nhận như sau:

Vào khoảng 04 giờ ngày 30/10/2016, Lê Thành B1 rủ Nguyễn Minh H và

Lê Hoàng V đi trộm cắp tài sản thì H và V đồng ý. B1 điều khiển xe gắn máy chở V, H và mang theo 01 cây xà beng, 01 tua-vit chạy lòng vòng tìm tài sản cơ sở để trộm cắp. Khi đến trước nhà đường A6, phường A5, quận A (nhà do chị C làm chủ). Tại đây, B1 dừng xe đứng ở ngoài cảnh giới còn H dùng xà beng phá khóa cửa ngoài và dùng kìm có sẵn của chủ nhà phá hai ổ khóa cửa trong, rồi H và V đột nhập vào nhà. Khi vào trong nhà, H dùng cây tuavit cậy ổ khóa công tắc của 01 chiếc xe gắn máy hiệu Elegant để V ra ngoài, còn H tiếp tục lục soát và lấy trộm được 03 màn hình vi tính, 03 ổ cứng di động của máy vi tính, một máy ảnh Canon 7D và 02 ống kính Camera mang ra ngoài. Sau đó V điều khiển xe vừa trộm được chở 01 màn hình máy vi tính, những tài sản còn lại H đưa lên xe của B1 và tất cả tẩu thoát mang về cất giấu tại nhà H.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày (ngày 30/10/2016), H và V bán máy ảnh

Canon 7D và 02 ống kính camera được 6.000.000 đồng, 01 màn hình máy vi tính hiệu Sony được 500.000 đồng, đồng thời H giữ lại 01 màn hình vi tính để sử dụng và H cho Trang Nguyễn Khánh T1 01 màn hình máy vi tính. Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Elegant, H và B1 thông qua sự môi giới của Phan Nhật Linh P để bán cho Trần Đỗ Anh T2 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán được xe, H cho P 500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng

hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Phú xác định: chiếc xe gắn máy hiệu Elegant số khung: 006598-V1, số máy: 006598-V2 có giá trị là 7.000.000 đồng.

Tương tự với thủ đoạn trên, các đối tượng Nguyễn Minh H, Lê Thành B1

và Trang Nguyễn Khánh T1, Lê Hoàng V và Đào Trọng H1 còn thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản khác vào khoảng giữa tháng 6/2016, ngày 15/9/2016 và ngày 01/11/2016 trên địa bàn quận A.

Tại Bản án số 82/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân quận

Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Nhật Linh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người

khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình

sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt bị cáo Phan Nhật Linh P 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt

bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt Nguyễn Minh H 03 năm tù, Đào Trọng

H1 03 năm tù, Lê Thành B1 02 năm tù, Lê Hoàng V 06 tháng tù, Trang Nguyễn Khánh T1 06 tháng tù nhưng cho bị cáo Toàn hưởng án treo cùng về tội “Trộm cắp tài sản” và tuyên phạt Trần Đỗ Anh T2 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do

người khác phạm tội mà có”; đồng thời bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự,

tiền thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13/6/2017 Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 21/6/2017 Phan Nhật

Linh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Nhật Linh P khai nhận hành vi như

nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, đồng thời giữ nguyên yêu cầu

kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân

tích tính chất của vụ án, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đã đề nghị Hội

đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình

sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ

vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của

kiểm sát viên, bị cáo,

XÉT!THẤY:!

Vào khoảng 04 giờ ngày 30/10/2016, Lê Thành B1 rủ Nguyễn Minh H và

Lê Hoàng V đi trộm cắp tài sản thì H và V đồng ý. B1 điều khiển xe gắn máy

chở V và H mang theo 01 cây xà beng, 01 tua-vit chạy lòng vòng tìm tài sản cơ

sở để trộm cắp. Khi đến trước nhà đường A6, phường A5, quận A (nhà do chị C

làm chủ). Tại đây, B1 dừng xe đứng ở ngoài cảnh giới còn H dùng xà beng phá

khóa cửa ngoài và dùng kìm có sẵn của chủ nhà phá hai ổ khóa cửa trong, rồi H

và V đột nhập vào nhà. Khi vào trong nhà, H dùng cây tuavit cậy ổ khóa công

tắc của 01 chiếc xe gắn máy hiệu Elegant có s khuná: 006598-V1 s máy:

006598-V2 để V ra ngoài, còn H tiếp tục lục soát và lấy trộm được 03 màn hình

vi tính, 03 ổ cứng di động của máy vi tính, một máy ảnh Canon 7D và 02 ống

kính Camera mang ra ngoài. Sau đó V điều khiển xe vừa trộm được chở 01 màn

hình máy vi tính, những tài sản còn lại H đưa lên xe của B1 và tất cả tẩu thoát

mang về cất giấu tại nhà H.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày (ngày 30/10/2016), sau khi B1, H, V trộm

cắp được các tài sản nêu trên thì đã mang số tài sản này đi tiêu thụ. Trong đó,

đối với chiếc xe gắn máy hiệu Elegant có s khuná: 006598-V1, s máy:

006598-V2, H và B1 thông qua sự môi giới của Phan Nhật Linh P để bán cho

Tr n

Anh T2 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán được xe, H cho P

500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản thì chiếc xe gắn máy hiệu Elegant có số

khung: 006598-V1, số máy: 006598-V2 có giá trị là 7.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Phan Nhật

Linh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1

Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng

người, đúng tội.

Ngày 13/6/2017 Tòa án xét xử sơ thẩm, thì đến ngày 21/6/2017 bị cáo

Phan Nhật Linh P kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo: bản thân bị cáo đã biết chiếc xe

máy Elegant có số khung: 006598-V1, số máy: 006598-V2 là do các đối tượng H trộm cắp mà có nhưng vì động cơ tư lợi các bị cáo vẫn thực hiện hành vi tìm người mua xe để giới thiệu cho H bán chiếc xe này. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội, cản trở hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra xử lý người phạm tội nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tuyên phạt bị cáo với mức án là 06 tháng tù là thỏa đáng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình tình tiết nào mới để xem xét

cho yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lập luận trên đây là căn cứ để chấp nhận lời trình bày của đại diện Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa hôm nay.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Điều 241; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 248 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2003.

QUYẾT!ĐỊNH:!

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Nhật Linh P và giữ nguyên

bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Phan Nhật Linh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người

khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự

năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt bị cáo Phan!Nhật!Linh!P (tên gọi khác: P1) 06 (sáu) tháng tù, thời

hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của

Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo pH nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn

đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

Cỡ chữ