- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Nhật Linh P - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Bản án số: 505/2017/HSPT Ngày: 22/9/2017 ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng
- Các Thẩm phán:
1. Ông Trương Công Huấn
2. Ông Huỳnh Văn Trực
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 433/2017/HSPT ngày
08/8/2017 đối với bị cáo Phan Nhật Linh P do có kháng cáo của bị cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân
dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Phan!Nhật!Linh!P!(tên gọi khác: P1), giới tính: nam; sinh năm: 1991 tại
Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: khu phố A1, phường A2, quận A3, Thành phố
Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Phan Nhật T
và con bà Phan Thị B; hoàn cảnh gia đình: bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền
sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
NHẬN!!THẤY:!
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú và bản án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/11/2016, Đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về trật tự xã hội Công an qu n Tân Phú trên đường tuần tra phát hiện
Nguyễn Minh H, Lê Thành B1, Lê Hoàng V, Trang Nguyễn Khánh T1, Đào
Trọng H1 và một số đối tượng đang tụ tập trước nhà số X đường A4, phường A5, quận A có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở làm việc và các đối tượng này đã khai nhận như sau:
Vào khoảng 04 giờ ngày 30/10/2016, Lê Thành B1 rủ Nguyễn Minh H và
Lê Hoàng V đi trộm cắp tài sản thì H và V đồng ý. B1 điều khiển xe gắn máy chở V, H và mang theo 01 cây xà beng, 01 tua-vit chạy lòng vòng tìm tài sản cơ sở để trộm cắp. Khi đến trước nhà đường A6, phường A5, quận A (nhà do chị C làm chủ). Tại đây, B1 dừng xe đứng ở ngoài cảnh giới còn H dùng xà beng phá khóa cửa ngoài và dùng kìm có sẵn của chủ nhà phá hai ổ khóa cửa trong, rồi H và V đột nhập vào nhà. Khi vào trong nhà, H dùng cây tuavit cậy ổ khóa công tắc của 01 chiếc xe gắn máy hiệu Elegant để V ra ngoài, còn H tiếp tục lục soát và lấy trộm được 03 màn hình vi tính, 03 ổ cứng di động của máy vi tính, một máy ảnh Canon 7D và 02 ống kính Camera mang ra ngoài. Sau đó V điều khiển xe vừa trộm được chở 01 màn hình máy vi tính, những tài sản còn lại H đưa lên xe của B1 và tất cả tẩu thoát mang về cất giấu tại nhà H.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày (ngày 30/10/2016), H và V bán máy ảnh
Canon 7D và 02 ống kính camera được 6.000.000 đồng, 01 màn hình máy vi tính hiệu Sony được 500.000 đồng, đồng thời H giữ lại 01 màn hình vi tính để sử dụng và H cho Trang Nguyễn Khánh T1 01 màn hình máy vi tính. Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Elegant, H và B1 thông qua sự môi giới của Phan Nhật Linh P để bán cho Trần Đỗ Anh T2 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán được xe, H cho P 500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng
hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Phú xác định: chiếc xe gắn máy hiệu Elegant số khung: 006598-V1, số máy: 006598-V2 có giá trị là 7.000.000 đồng.
Tương tự với thủ đoạn trên, các đối tượng Nguyễn Minh H, Lê Thành B1
và Trang Nguyễn Khánh T1, Lê Hoàng V và Đào Trọng H1 còn thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản khác vào khoảng giữa tháng 6/2016, ngày 15/9/2016 và ngày 01/11/2016 trên địa bàn quận A.
Tại Bản án số 82/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân quận
Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Nhật Linh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình
sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;
Xử phạt bị cáo Phan Nhật Linh P 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt
bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt Nguyễn Minh H 03 năm tù, Đào Trọng
H1 03 năm tù, Lê Thành B1 02 năm tù, Lê Hoàng V 06 tháng tù, Trang Nguyễn Khánh T1 06 tháng tù nhưng cho bị cáo Toàn hưởng án treo cùng về tội “Trộm cắp tài sản” và tuyên phạt Trần Đỗ Anh T2 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có”; đồng thời bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự,
tiền thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13/6/2017 Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 21/6/2017 Phan Nhật
Linh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Nhật Linh P khai nhận hành vi như
nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, đồng thời giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất của vụ án, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đã đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình
sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của
kiểm sát viên, bị cáo,
XÉT!THẤY:!
Vào khoảng 04 giờ ngày 30/10/2016, Lê Thành B1 rủ Nguyễn Minh H và
Lê Hoàng V đi trộm cắp tài sản thì H và V đồng ý. B1 điều khiển xe gắn máy
chở V và H mang theo 01 cây xà beng, 01 tua-vit chạy lòng vòng tìm tài sản cơ
sở để trộm cắp. Khi đến trước nhà đường A6, phường A5, quận A (nhà do chị C
làm chủ). Tại đây, B1 dừng xe đứng ở ngoài cảnh giới còn H dùng xà beng phá
khóa cửa ngoài và dùng kìm có sẵn của chủ nhà phá hai ổ khóa cửa trong, rồi H
và V đột nhập vào nhà. Khi vào trong nhà, H dùng cây tuavit cậy ổ khóa công
tắc của 01 chiếc xe gắn máy hiệu Elegant có s khuná: 006598-V1 s máy:
006598-V2 để V ra ngoài, còn H tiếp tục lục soát và lấy trộm được 03 màn hình
vi tính, 03 ổ cứng di động của máy vi tính, một máy ảnh Canon 7D và 02 ống
kính Camera mang ra ngoài. Sau đó V điều khiển xe vừa trộm được chở 01 màn
hình máy vi tính, những tài sản còn lại H đưa lên xe của B1 và tất cả tẩu thoát
mang về cất giấu tại nhà H.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày (ngày 30/10/2016), sau khi B1, H, V trộm
cắp được các tài sản nêu trên thì đã mang số tài sản này đi tiêu thụ. Trong đó,
đối với chiếc xe gắn máy hiệu Elegant có s khuná: 006598-V1, s máy:
006598-V2, H và B1 thông qua sự môi giới của Phan Nhật Linh P để bán cho
Tr n
Anh T2 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán được xe, H cho P
500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản thì chiếc xe gắn máy hiệu Elegant có số
khung: 006598-V1, số máy: 006598-V2 có giá trị là 7.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Phan Nhật
Linh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1
Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng
người, đúng tội.
Ngày 13/6/2017 Tòa án xét xử sơ thẩm, thì đến ngày 21/6/2017 bị cáo
Phan Nhật Linh P kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo: bản thân bị cáo đã biết chiếc xe
máy Elegant có số khung: 006598-V1, số máy: 006598-V2 là do các đối tượng H trộm cắp mà có nhưng vì động cơ tư lợi các bị cáo vẫn thực hiện hành vi tìm người mua xe để giới thiệu cho H bán chiếc xe này. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội, cản trở hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra xử lý người phạm tội nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tuyên phạt bị cáo với mức án là 06 tháng tù là thỏa đáng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình tình tiết nào mới để xem xét
cho yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lập luận trên đây là căn cứ để chấp nhận lời trình bày của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa hôm nay.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điều 241; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 248 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003.
QUYẾT!ĐỊNH:!
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Nhật Linh P và giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Phan Nhật Linh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự
năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;
Xử phạt bị cáo Phan!Nhật!Linh!P (tên gọi khác: P1) 06 (sáu) tháng tù, thời
hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của
Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo pH nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)!!!!!!!!!!!! - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND quận Tân Phú; (1) - P.PC 53- CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Thi hành án quận Tân Phú; (2) - TAND quận Tân Phú; (2) - Công an quận Tân Phú; (1) - UBND nơi BC cư trú; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (20) (4)! | THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! ! ! Ngô!Ngọc!Thắng! |