vanban.org

Bản án 503/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Th về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán cho Ngân hàng TMCP Th số nợ tổng cộng là 53.

Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Th số tiền là 53.252.493đ (năm mươi ba triệu hai trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng), (trong đó nợ gốc là 19.017.281đ và nợ lãi trong hạn, quá hạn là 34.235.212đ); trả một lần số tiền trên ngay sau khi án có hiệu lực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Th về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán cho Ngân hàng TMCP Th số nợ tổng cộng là 53.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 503/2019/DS-ST
Ngày 29/11/2019
V/v Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Lợi

2. Bà Phan Thị Xuân Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh: không tham gia phiên Tòa.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 25/2019/TLST-DSST ngày 11 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2019/QĐST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 271a/2019/QĐST-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Th (Th Bank); địa chỉ trụ sở: Số X, đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành Tr – Chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH quản lý tài sản Ngân hàng TMCP Th kiêm Phó giám đốc Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ; (Theo văn bản ủy quyền số 11/2018/QQ-HĐQT ngày 02/3/2018 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Th);

Ông Tr ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn Hữu Q– Chuyên viên tố tụng; Ông Đinh Văn T - Chuyên viên tố tụng; (Theo văn bản ủy quyền ngày 24 tháng 9 năm 2019); địa chỉ liên lạc: Tầng Y, số A, đường B, phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số 26, đường 650, tổ 08, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 19/12/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Th (viết tắt Th Bank) có ký cấp hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Văn T vay số tiền 20.000000đ theo hợp đồng tín dụng (viết HĐTD) giải ngân ngày 25/03/2015 (Căn cứ vào giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 18/3/2015), thỏa thuận thời hạn vay 48 tháng, lãi suất cho vay là 27%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay tiêu dùng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.890.000đ. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng trên từ ngày 13/8/2015. Kể từ ngày ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Th Bank đã chuyển sang nợ quá hạn, phía Th Bank đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện để ông T thanh toán nhưng ông T cố tình né tránh và không thực hiện.

Tính đến ngày 29/11/2109, ông T còn nợ Th Bank số tiền tổng cộng là 53.252.493đ (trong đó nợ gốc là 19.017.281đ và nợ lãi trong hạn, quá hạn là 34.235.212đ). Nay Th Bank khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán số tiền trên và yêu cầu trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu ông T phải thanh toán cho Th Bank tiền lãi phát sinh theo quy định tại HĐTD đã ký kết từ ngày 29/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ.

Các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình gồm: Điều lệ, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bản sao); Giấy ủy quyền; Đơn đề nghị mở tài khoản; Bảng chiết tính lãi đến ngày 29/11/2019; Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của ông T.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo mở phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đến tham dự phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Th Bank khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả số tiền tổng cộng là là 53.252.493đ (trong đó nợ gốc là 19.017.281đ và nợ lãi trong hạn, quá hạn là 34.235.212đ), yêu cầu trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu ông T phải thanh toán cho Th Bank tiền lãi phát sinh theo HĐTD đã ký kết từ ngày 29/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định: Th Bank có ký hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Văn T vay số tiền 20.000000 đồng theo HĐTD giải ngân ngày 25/3/2015, theo các nội dung thỏa thuận như phía nguyên đơn trình này là đúng. Ông T đã nhận đủ tiền vay đối với hợp đồng trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đã không tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn từ ngày 13/8/2015 đến nay. Tính đến ngày 29/11/2109, dư nợ của ông T đối với hợp đồng tín dụng trên là 53.252.493đ (trong đó nợ gốc là 19.017.281đ và nợ lãi trong hạn, quá hạn là 34.235.212đ) là đúng.

Xét trong quá trình giải quyết vụ án, ông T vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp và chứng cứ mà Tòa thu thập được theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Tại phiên Tòa hôm nay, phía nguyên đơn yêu cầu ông T phải thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh theo quy định tại HĐTD đã ký kết từ ngày 29/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 91, khoản 1 khoản 4 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 7698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận; Cần buộc ông Nguyễn Văn T trả cho nguyên đơn số tiền tổng cộng là 53.252.493đ (trong đó nợ gốc là 19.017.281đ và nợ lãi trong hạn, quá hạn là 34.235.212đ). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại: Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 1 khoản 4 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01/01/2011;

- Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 7698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Căn cứ Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Th về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán cho Ngân hàng TMCP Th số nợ tổng cộng là 53.252.493đ (năm mươi ba triệu hai trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Th số tiền là 53.252.493đ (năm mươi ba triệu hai trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng), (trong đó nợ gốc là 19.017.281đ và nợ lãi trong hạn, quá hạn là 34.235.212đ); trả một lần số tiền trên ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí dân sự sơ thẩm là 2.662.624đ (hai triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi bốn đồng) buộc ông Nguyễn Văn T phải nộp.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Th số tiền tạm ứng án phí 1.158.141đ (một triệu một trăm năm mươi tám nghìn một trăm bốn mươi mốt đồng) theo biên lai thu tiền số 0033852, ngày 11/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ