- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn P - Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 502/2026/HSST Ngày 18 tháng 08 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Việt Hùng
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Kim Hiền.
Bà Dương Thị Diễm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 482/2026/TLST – HS, ngày 24 tháng 07 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 951/2026/QĐXXST – HS ngày 07 tháng 08 năm 2026 đối với bị cáo họ và tên: Đỗ Văn P - Giới tính: Nam; Sinh năm: 1963; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn C, xã Y, tỉnh Y; Nơi ở: Hẻm 25 ngách 76/35 D, phường H, thành phố H; Căn cước công dân số: 0330630*****; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 1/12; Họ và tên cha: Đỗ Văn T - sinh năm 1935 (đã chết); Họ và tên mẹ: Chu Thị S (đã chết) - sinh năm 1935; Họ và tên vợ: Phạm Thị Q – sinh năm 1964 (đã ly hôn). Theo danh chỉ bản số 516 lập ngày 16/4/2026 của phân trại tạm giam Nghĩa Đô - Công an thành phố H thì Tiền án, tiền sự: 03 tiền án (án tích đã xoá), 03 tiền sự (ngoài thời hiệu).
Nhân thân:
- Ngày 14/08/2018, Công an quận Tây Hồ xử phạt hành chính 1.500.000 đồng hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy - Ngoài thời hiệu
- Năm 2009 Công an phường P Xá, quận Ba Đình, thành phố H, Quyết định đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng - Ngoài thời hiệu
- Năm 2018 Công an phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố H, Quyết định đi Cai nghiện bắt buộc 24 tháng - Ngoài thời hiệu
- Bản án số: 23/HSST ngày 25/6/1994 Tòa án nhân dân huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng, xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/1997. Xác minh thi hành án thể hiện không tìm thấy hồ sơ lưu trữ (đã xóa án tích).
- Bản án số: 08/HSST ngày 22/04/2003, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2004, nộp án phí ngày 10/8/2009 (đã xóa án tích).
- Bản án số: 34/HSST ngày 28/03/2014, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố H, xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2016, nộp án phí 27/7/2015 (đã xóa án tích).
Tạm giữ: 15/04/2026 – Tạm giam: 23/04/2026.
Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/04/2026, tại đầu hẻm 25 ngách 76/35 D, phường H, thành phố H, Tổ công tác của Công an phường H bắt quả tang Đỗ Văn P đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Quá trình bắt giữ, đối tượng mua ma túy của Đỗ Văn P đã bỏ chạy thoát. Tại chỗ, P giao nộp 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng, P khai nhận là ma tuý Heroin mang đi để bán. Sau đó, P khai nhận còn cất giấu ma túy tại phòng trọ hẻm 25 ngách 76/35 D, phường H, thành phố H. Tổ công tác đã đưa P về phòng trọ, P tự nguyện giao nộp 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin. Tổ công tác đã đưa P cùng tang vật về trụ sở để điều tra làm rõ.
Tang vật thu giữ của Đỗ Văn P:
- 02 (hai) gói giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng.
- 01 (một) túi nilông trắng bên trong chứa chất bột màu trắng .
- 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đã cũ. Tiến hành kiểm tra điện thoại SamSung A05 đã qua sử dụng của P, Imei l: 35294993833735, Imei 2: 352961203833733, lắp sim số 0336697734 và 0963510907, phát hiện lịch sử cuộc gọi và tin nhắn văn bản có nội dung liên quan đến vụ việc.
- Số tiền 600.000 đồng
Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu Đỗ Văn P: Dương tính với ma túy MOP. Xác minh tại chính quyền địa phương Đỗ Văn P không thuộc diện đang điều trị cai nghiện hoặc quản lý sau cai nghiện nên không có căn cứ xử lý Đỗ Văn P theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự.
Ngày 15/4/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số: 17956/QĐ-CSMT trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H giám định chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc màu vàng và 01 túi nilông màu trắng thu giữ của Đỗ Văn P.
Bản kết luận giám định số 3754/KL-KTHS ngày 24/04/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:
Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc màu vàng đều là ma túy Heroin, tổng khối lượng: 0,240 gam
Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,040 gam (BL 99).
Tại cơ quan điều tra Đỗ Văn P khai nhận: P nghiện ma túy Heroin, thường sử dụng bằng hình thức hút. Để có tiền mua ma túy về sử dụng, P mua ma túy Heroin về bán để kiếm lời. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/04/2026, P đi đến khu vực đường Hồng Hà để tìm mua ma túy, tại đây P gặp một người đàn ông không quen biết và mua 01 túi nilông bên trong chứa ma túy Heroin với giá 500.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, có một người đàn ông gọi điện từ số 058.608.3842 vào số điện thoại 033.669.7734 của P hỏi mua 02 gói ma túy Heroin mỗi gói 300.000 đồng. P đồng ý và hẹn sẽ gặp nhau ở ngách 76/35 D để giao ma túy. Sau đó, P lấy túi nilông chứa ma túy Heroin đã mua ra, lấy giấy bạc màu vàng trong vỏ bao thuốc lá chia thành 02 gói ma túy nhỏ khác nhau để bán, P bớt lại một phần ma túy trong túi nilông và để trong phòng, nếu có khách hỏi mua P sẽ bán tiếp. P cất giấu 02 gói ma túy vào trong túi quần bên trái để mang đến ngách 76/35 D giao cho khách. Khoảng 30 phút sau, đối tượng mua ma túy của P đến gặp P tại đầu hẻm 25 ngách 76/35 D, phường H, thành phố H và đưa cho P 600.000 đồng tiền mặt, P cầm tiền trong lòng bàn tay trái, chưa kịp giao ma túy thì bị Tổ công tác Công an phường H bắt giữ cùng tang vật, đối tượng mua ma túy của P bỏ chạy mất.
Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ của P, P khai mua của một người không quen biết ở khu khu vực đường Hồng Hà ngày 15/4/2026 với giá 500.000 đồng trả bằng tiền mặt. P mua số ma túy Heroine này về để bán kiếm lời. Tiến hành dẫn giải Đỗ Văn P đến địa điểm mua ma túy tại khu vực vỉa hè đối diện số 15 Hồng Hà, phường Hồng Hà, thành phố H, để xác định đối tượng bán ma túy cho P. Qua rà soát camera quanh khu vực này, Cơ quan điều tra không thu giữ được hình ảnh.
Đối với đối tượng mua ma túy của P, P khai không rõ nhân thân lai lịch, P chỉ biết người đàn ông đó khoảng trên 30 tuổi, dáng người gầy, mặc áo sơ mi dài tay màu xanh, quần dài tối màu, đeo khẩu trang, P chỉ biết anh ta tên Tiến, nhà ở đâu không rõ, sử dụng số điện thoại 0586083842 để liên hệ mua ma túy. Đây là lần đầu tiên anh ta mua ma túy của P. Kết quả xác minh số điện thoại 0586083842 đăng ký chủ thuê bao là anh Đoàn Doãn T (sinh năm 1982. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: số 198 Khu 4 Ấp Gia C, xã Định Q, tỉnh N). Anh Đoàn Doãn T khai không đăng ký sử dụng số điện thoại trên và cũng không biết ai là người đang sử dụng số điện thoại trên và không quen biết, không mua ma túy của Đỗ Văn P.
Xác minh số điện thoại 033.669.7734 chủ thuê bao là Đỗ Văn P, lịch sử cuộc gọi thể hiện như nội dung trong biên bản kiểm tra điện thoại của P ngày 15/04/2026.
Tại bản Cáo trạng số 256/CT-VKSHN-KV1 ngày 14/07/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Văn P mức án từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì dán kín các mép đóng mở, trên các mép đóng mở của phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Thanh B, đương sự Đỗ Văn P và cán bộ Công an phường Nguyễn Đặng T, có dấu giáp lai của Công an phường H bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng, 01 túi nilông trắng chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroin; 01 sim điện thoại kèm theo máy.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung A05 màu xanh (đã qua sử dụng) có số Imei 1: 35294993833735, Imei 2: 352961203833733; Số tiền 600.000 đồng.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đỗ Văn P nhất trí với bản luận tội, bị cáo nhận tội, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận là: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/04/2026, Đỗ Văn P đang có hành vi Mua bán trái phép 0,240 gam ma túy Heroin thì bị Tổ công tác của Công an phường H bắt quả tang tại đầu hẻm 19 ngách 76/35 D, phường H, thành phố H. Khám xét tại nhà Đỗ Văn P tại địa chỉ hẻm 25 ngách 76/35 D, phường H, thành phố H, Cơ quan điều tra còn thu giữ 0,040 gam ma túy loại Heroin, mục đích để bán. Như vậy, tổng khối lượng ma túy Đỗ Văn P mua bán trái phép là 0,280 gam ma túy loại Heroin. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho các tệ nạn buôn bán ma túy ngày càng phát triển. Mặc dù biết rõ tác hại của ma túy, nhưng do ham hưởng lợi bất chính, bị cáo coi thường pháp luật, cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Với những phân tích trên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo - đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp:
- Xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) Phong bì niêm phong, dán kín các mép đóng mở, trên các mép đóng mở của phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Thanh B, bị cáo Đỗ Văn P và cán bộ Công an phường Nguyễn Đặng T, có dấu giáp lai của Công an phường H bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng, 01 túi nilông trắng chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroin là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy;
+ Đối với 01 sim điện thoại kèm theo máy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động Samsung A05 (đã qua sử dụng) màu xanh đã cũ có số Imei 1: 35294993833735, Imei 2: 352961203833733 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; Số tiền 600.000 đồng là tiền bị cáo do mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, Điều 47 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Áp dụng Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn P 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2026.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
*Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì niêm phong, dán kín các mép đóng mở, trên các mép đóng mở của phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Thanh B, bị cáo Đỗ Văn P và cán bộ Công an phường Nguyễn Đặng T, có dấu giáp lai của Công an phường H bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng, 01 túi nilông trắng chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroin; 01 sim điện thoại kèm theo máy.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung A05 màu xanh (đã qua sử dụng) có số Imei 1: 35294993833735, Imei 2: 352961203833733; Số tiền 600.000 đồng.
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng Phân trại Tạm giam Nghĩa Đô thuộc Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 7 năm 2026.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND Khu vực 1 – Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - CC Thi hành án DS Khu vực 1 – Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; VP/TA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Việt Hùng |