vanban.org

Bản án 501/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo NVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: NVH 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu H1, H2 bên trong chứa 0,106 gam ma tuý và vỏ bao gói mẫu ban đầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt Hưng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo NVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 501/2022/HSST
Ngày 29/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Trường Kháng.

2. Ông Triệu Đức Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền , ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 464/2022/HSST ngày 25/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/2022/QĐXXST-HS ngày 09/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NVH; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 25 tháng 01 năm 1972, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã SC, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1944; Con bà: Lê Thị C, sinh năm: 1944; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1974; Con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: - Tại bản án số 05/HSST ngày 12/3/2003, bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù, nH cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng, về tội "Trộm cắp tài sản".Chấp hành xong án phí, bồi thường thiệt hại ngày 29 tháng 7 năm 2004; - Tại quyết định số 147/QĐ - UBND, ngày 18 tháng 01 năm 2008 của UBND huyện Phú Lương về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện Phú Lương, thời gian 18 tháng, chấp hành xong 24 tháng 11 năm 2009; - Tại quyết định số 57/QĐ- XPHC ngày 11/07/2012 của Công an phường Quan Triều xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng, về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý". Đã chấp hành xong ngày 11 tháng 7 năm 2012.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2022 đến nay). (Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời chứng kiến: 1. Ông DVC, sinh năm 1962. (Vắng mặt).

Trú quán: Xóm C 5, xã SC, thành phố Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Hồi 07 giờ 20 phút ngày 14/7/2022, tổ công tác Công an xã SC, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực xóm 6, xã SC,thành phố Thái Nguyên phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma tuý, tổ công tác yêu cầu nam thanh niên dừng lại kiểm tra và mời người chứng kiến, qua kiểm tra nam thanh niên khai tên NVH, H tự giác lấy trong lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, H khai là ma tuý Heroine H mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường tròn TL, phường TL, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân, kiểm tra người H không phát hiện thu giữ gì thêm. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lư ợng: Số chất bột màu trắng thu giữ của NVH có khối lượng 0,117gam, lấy toàn bộ số bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số1098/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,117 gam.

Tại Cơ quan điều tra, NVH khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 14/7/2022, H đi bộ từ nhà riêng tại xóm Đ, xã SC, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực đường tròn TL, thuộc phường TL, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma tuý sử dụng, tại đây H gặp một người đàn ông không quen biết mua được 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma tuý Heroine giá 100.000 đồng, rồi cất gói ma tuý Heroine trong lòng bàn tay trái sau đó H đi về đường quốc lộ 3, thuộc xóm 6 xã SC TP Thái Nguyên để tìm nơi sử dụng ma tuý, thì bị tổ công tác Công an xã SC, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.

Lời khai nhận của NVH phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luâ ̣n giám đi ̣nh , lờ i khai c ủa người chứ ng kiếnvà các tài liê ̣u khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: - 02 phong bì niêm phong ký hiệu H1, H2 bên trong chứa 0,106 gam ma tuý và vỏ bao gói mẫu ban đầu.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 424/CT-VKSNDTPTN ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố NVH về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo NVH phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt NVH mức án từ 18 đến 21 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội;

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 07 giờ 20 phút ngày 14/7/2022, tại khu vực xóm 6, xã SC, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, NVH có hành vi tàng trữ trái phép 0,117 gam Heroine, mục đích sử du ̣ng cho bản thânthì bị tổ công tác của Công an xã SC, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nH vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,117 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ....

...

c, Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án xét xử vào năm 2003 và bị Quyết định áp dụng biện pháp hành chính vào năm 2008 và xử phạt vi phạm hành chính vào năm 2012. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định hành chính..NH bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 21 tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp..

Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu H1, H2 bên trong chứa 0,106 gam ma tuý và vỏ bao gói mẫu ban đầu.

Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ NVH khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm 6, xã SC,thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên . Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phốThái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án phí: - Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo NVH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: NVH 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu H1, H2 bên trong chứa 0,106 gam ma tuý và vỏ bao gói mẫu ban đầu.

(Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 168 ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo NVH phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ