vanban.org

Bản án 50/HSST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 05/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ 13/7/2018. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2018/HSST
Ngày: 05/12/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai

Các hội thẩm nhân dân:

Bà: Hoàng Thị Tám

Bà: Nguyễn Thị Thoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Bá Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2018/TLST - HS ngày 07/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2018/QĐXXST - HS ngày 21/11/18 đối với bị cáo:

Bùi Anh T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 30/6/1993.

Nơi cư trú: Xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đình X (chết) và con bà Nguyễn Thị M; Vợ; Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1/ Anh Bạch Văn H – sinh năm 1980

Nơi cư trú: Xóm O, xã K, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

2/ Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1993

Nơi cư trú: Xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ ngày 13/7/2018 tại khu vực Chợ Bến – Cao Thắng – Lương Sơn – Hòa Bình, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn phối hợp với Công an xã Cao Thắng bắt quả tang Bùi Anh T, sinh năm 1993, HKTT: Xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra Bùi Anh T khai nhận: Vào khoảng 08 giờ ngày 13/7/2018, T đang ở nhà tại xóm C, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì có Bạch Văn H, sinh năm 1980, HKTT: xóm O, xã K, huyện L, tỉnh Hòa Bình gọi điện thoại cho T và nói “lát nữa có đứa em của H sẽ gọi điện cho T để nhờ đi mua ma túy” thì T đồng ý, khoảng 3 phút sau có một người đàn ông gọi T tự xưng là em của H và muốn nhờ T đi mua ma túy về để cùng sử dụng, người đàn ông này hẹn gặp T ở ngã tư Chợ Bến – Cao Thắng – Lương Sơn – Hòa Bình, T đồng ý. Sau đó T mượn xe mô tô BKS: 28L1 – 114.91 của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 là người cùng xóm để đi lên khu vực ngã tư Chợ Bến. Khi lên đến nơi T gặp một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, cao khoảng 1m75, tóc cắt ngắn, có sợi bạc, da ngăm đen. Người đàn ông này đưa cho T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) gồm 1 tờ mệnh giá 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 1 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) và bảo T đi mua ma túy về cùng sử dụng. T đồng ý cầm lấy tiền rồi điều khiển xe mô tô đi ra khu vực chợ Vài, xã Hợp Thanh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, gặp một người đàn ông tên H1 và đưa cho H1 số tiền 300.000 đồng. H1 đưa cho T 03 gói ma túy được bọc bằng giấy trắng đựng vào túi ni lon màu hồng. T cầm túi ma túy vừa mua được bằng tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về khu vực ngã tư Chợ Bến, xã Cao Thắng để giao ma túy cho người đàn ông đã đưa cho T đi mua ma túy. Trong lúc T đang ngồi chờ thì bị tổ công tác Công an huyện Lương Sơn phát hiện và bắt quả tang thu giữ tại tay phải của T một gói ni lon màu hồng bên trong có 03 gói giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận là Heroin.

Bản kết luận giám định số 157/KLGĐ – CAT – PC 54 ngày 19/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận chất dạng bột màu trắng bên trong 03 gói giấy thu giữ của Bùi Anh T có tổng khối lượng là 0,22g là ma túy loại Heroin.

Cáo trạng số 48/ CT - VKSLS ngày 01 tháng 11 năm 2018 truy tố Bùi Anh T về tội Tàng trữ trái phép ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tại phiên tòa trình bày bản luận tội, giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Bùi Anh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Bùi Anh T từ 18 -24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì bên nguyên vẹn một mặt ghi “Mẫu

giám định ma túy”, cán bộ giám định: Đỗ Thành C, số nhận giám định số 191 ngày 13/7/2018, số thông báo KLGĐ số 191 ngày 13/7/2018. Cơ quan trưng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn số 157 ngày 13/7/2018, có tên đối tượng Bùi Anh T, tên mẫu vật Heroin, có số lượng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1202, màu vàng trắng không có nắp phía sau, không kiểm tra chất lượng điện thoại là chiếc điện thoại T đã sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến và đề nghị Kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát huyện Lương Sơn trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Anh T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 13/7/2018 Bùi Anh T nhận được điện thoại của một người đàn ông không quen biết nhờ đi mua ma túy để cùng sử dụng, T đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS: 28L1 – 114.91 đi đến chợ Vài, huyện Mỹ Đức, Hà Nội mua 03 gói Heroin với giá 300.000 đồng của một người đàn ông tên H1, sau đó T điều khiển xe mô tô về khu vực chợ Bến – Cao Thắng – Lương Sơn – Hòa Bình để giao ma túy cho người đàn đã nhờ T mua ma túy thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn bắt quả tang thu trên người Bùi Anh T 03 gói ma túy Heroin có tổng khối lượng là 0,22gam với mục đích sử dụng. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ và đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Anh T là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tàng trữ, mua bán chất ma túy trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung .

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Bùi Anh T theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với Bạch Văn H theo lời khai của bị cáo có gọi điện cho bị cáo nói có người nhờ bị cáo mua giúp ma túy nhưng Bạch Văn H không thừa nhận nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Bạch Văn H. Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, làm rõ khi có đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông nhờ bị cáo mua ma túy và đối tượng tên H1 (theo lời khai của bị cáo) bán ma túy cho bị cáo cơ quan điều tra đã truy tìm, xác minh nhưng chưa có kết quả. Cơ quan điều tra đã tách để tiếp tục điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Thị H là người cho bị cáo mượn xe mô tô để bị cáo đi mua ma túy nhưng do chị H không biết bị cáo sử dụng mô tô để đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện không có căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015

được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì bên nguyên vẹn. một mặt ghi “Mẫu giám định ma túy”,cán bộ giám định: Đỗ Thành C, số nhận giám định số 191 ngày 13/7/2018, số thông báo KLGĐ số 191 ngày 13/7/2018. Cơ quan trưng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn số 157 ngày 13/7/2018, có tên đối tượng Bùi Anh T, tên mẫu vật Heroin, có số lượng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1202, màu vàng trắng không có nắp phía sau, không kiểm tra chất lượng điện thoại là chiếc điện thoại T đã sử dụng để liên lạc mua ma túy.

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh đen, BKS 28L1 – 114.19 bị cáo mượn của chị H, cơ quan điều tra xác minh khi bị cáo mượn chị H không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lương Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu là chị H. Nên không đề cập.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Anh T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ 13/7/2018.

3. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì bên nguyên vẹn, một mặt ghi “Mẫu giám định ma túy”, cán bộ giám định: Đỗ Thành C, số nhận giám định số 191 ngày 13/7/2018, số thông báo KLGĐ số 191 ngày 13/7/2018. Cơ quan trưng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn số 157 ngày 13/7/2018, có tên đối tượng Bùi Anh T, tên mẫu vật Heroin, có số lượng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1202, màu vàng trắng không có nắp phía sau, không kiểm tra chất lượng điện thoại.

Hiện trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn ngày 07/11/2018.

4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Anh T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ