vanban.org

Bản án 50/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cà Văn P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/11/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2026/HSST
Ngày 16-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Phúc và ông Tòng Văn Thơi.

- Thư ký phiên toà: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Cà Văn P, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/7/1994 tại xã B, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã B, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn T, sinh năm 1966 và bà Quàng Thị D, sinh năm 1966; bị cáo có vợ Lò Thị V (đã ly hôn), bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 11 năm 2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 45 phút ngày 17/11/2025, Tổ công tác Công an xã B, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản D, xã B, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang Cà Văn P có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa bột cục màu trắng nghi là Heroine (Theo Cà Văn P khai nhận là Heroine).

Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 18/11/2025 tại Công an tỉnh Sơn La (địa bàn TC) tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng đối với toàn bộ chất bột cục màu trắng nghi là Heroine có trong gói nilon màu trắng thu giữ của Cà Văn P được khối lượng 0,21 gam (Không phẩy hai mươi mốt gam). Rút toàn bộ 0,21 gam chất bột cục màu trắng trên ký hiệu P1 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 1400/KL-KTHS ngày 21/11/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu P1 gửi giám định là ma túy, Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Cà Văn P là 0,21 gam (Không phẩy hai mươi mốt gam) chất ma túy, loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cà Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 16/11/2025, Cà Văn P đi bộ một mình từ nhà anh trai ruột tên là Cà Văn T trú tại bản D, xã B, tỉnh Sơn La đi lên nhà Cà Văn H trú cùng bản D, xã B, tỉnh Sơn La để hỏi mua ma túy về sử dụng. Khi P đi đến nhà H thì gặp H đang ở nhà một mình. Gặp H, P hỏi: “Em có Heroine không? Bán cho anh 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)?”. H trả lời: “Có, đưa tiền đây”. P lấy ra số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đưa cho H. H cầm tiền rồi đi ra ngoài nhà khoảng một phút sau quay lại đưa cho P 01 (Một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine. Sau khi mua được ma túy P cầm gói Heroine vừa mua được đi ra bụi cây ven đường thuộc bản D, xã B, tỉnh Sơn La mở san ra một ít Heroine rồi sử dụng một mình bằng hình thức đốt hít. Số Heroine còn lại P gói lại bằng nilon màu trắng rồi cất vào túi quần đằng trước bên trái đang mặc mục đích để sử dụng dần. P vứt chiếc bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc dùng làm công cụ sử dụng ma túy tại khu vực nơi P vừa sử dụng ma túy. Sau đó P đi bộ về nhà Cà Văn T để ngủ. Đến khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 17/11/2025, P đang đi bộ một mình trên đường liên bản thuộc bản D, xã B, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã B, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cà Văn P.

Tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKS-KV2 ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố bị cáo Cà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Cà Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Xử phạt bị cáo Cà Văn P từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phong bì thư màu trắng.

Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Cà Văn P.

Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn P thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Ngày 17/11/2025 bị cáo Cà Văn P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,21 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản D, xã B, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 17/11/2025; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 1400/KL-KTHS ngày 21/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,21 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Cà Văn P đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân cũng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Cà Văn P không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phong bì thư màu trắng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với Cà Văn H, sinh ngày 14/9/1996, trú tại Bản D, xã B, tỉnh Sơn La là người bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo vào ngày 16/11/2025. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cho bị cáo nhận diện Cà Văn H, triệu tập, xác minh đối tượng đồng thời cho bị cáo và Cà Văn H đối chất với nhau. Tuy nhiên Cà Văn H không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo vào ngày 16/11/2025, cũng như không thu giữ được gì đối với H. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có căn cứ cơ sở nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có đủ căn cứ để điều tra, xử lý đối với Cà Văn H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Cà Văn T sinh ngày 14/7/1991, trú tại Bản D, xã B, tỉnh Sơn La là anh trai ruột của bị cáo. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành triệu tập và xác minh đối với Cà Văn T. Việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, T không biết và không liên quan nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không xử lý đối với Cà Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc bị cáo dùng làm công cụ sử dụng ma túy bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo đã vứt chiếc bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc tại khu vực nơi bị cáo sử dụng ma túy nhưng bị cáo không nhớ rõ địa điểm cụ thể nơi sử dụng ma túy. Do đó Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ truy tìm vật chứng trong vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Cà Văn P là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn P.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cà Văn P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/11/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào một phong bì thư màu trắng.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng số 49/QĐ-VKS-KV2, ngày 09/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2026 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cáo Cà Văn P.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Cà Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ