- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hồng Phúc - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Lưu trữ; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND KHU VỰC 2 ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2026/HS-ST Ngày: 13/03/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tâm
2. Ông Võ Thành Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hồng P, Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 02 năm 2005; tại tỉnh Đồng Tháp; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 082205003476; Cấp ngày 24 tháng 4 năm 2021, Nơi cấp: Cục C về TTXH – Bộ C1; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: phố T, phường L, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: Trần Văn H, sinh năm 1970; Mẹ: Đặng Thị Kim T, sinh năm 1981; Anh chị em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2007; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: năm 2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công ra Quyết định số 14/2024/QĐ-TA ngày 30/01/2024 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy T2 thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 19/6/2025. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
+ Bị cáo Trần Hồng P đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 52/QĐ-UBND ngày 20/6/2025 của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (nay là phường L, tỉnh Đồng Tháp) từ ngày 20/6/2025 đến 20/6/2027. Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14/10/2025, bị cáo P đi đến khu vực phường L, tỉnh Đồng Tháp thì gặp một người thanh niên tên Bé L (chưa rõ lai lịch) rủ bị cáo P sử dụng ma túy, bị cáo P đồng ý. Bé Lũi kêu bị cáo P đi đến khu đất trống thuộc phường L ngồi chờ, khoảng 10 phút sau, Bé L mang theo ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến rồi cùng nhau sử dụng ma túy. Sử dụng xong, bị cáo P về nhà ngủ, Bé L đi đâu bị cáo P không rõ.
+ Bản kết luận giám định số 1962/KL-KTHS ngày 22/10/2025 của Phòng thuật hình sự Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong nước tiểu của Trần Hồng P, chứa trong 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu đen đậy kín, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong mã số PS3A 100248 có các chữ ký ghi họ tên: Trần Hồng P, Huỳnh Thanh T1, Trần Thanh H1, Trương Nguyễn Công B. H2 lại đối tượng giám định: Không (mẫu nước tiểu đã sử dụng hết cho quá trình giám định).
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSKV2 ngày 21/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Trần Hồng P đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Hồng P đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Về vật chứng: 01 (một) que teat nhanh ma túy loại 4 trong 1 sau khi đã test nhanh với nước tiểu của Trần Hồng P vào ngày 15/10/2025, ghi nhận dương tính với loại ma túy MET (Methamphetamine) MDMA và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu “FASTTEP”, tất cả niêm phong vào túi niêm phong chuyên dụng mã số PS3A – 100247 có các chữ ký của Trần Hồng P, Trương Nguyễn Công B, Huỳnh Thanh T1 và Trần Thanh H1 đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi của bị cáo; bị cáo đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định của chính quyền địa phương trong thời hạn từ ngày 20/6/2025 đến 20/6/2027. Bị cáo được chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật về ma túy. Tuy nhiên, do không kiềm chế bản thân nên ngày 14/10/2025 bị cáo sử dụng ma túy. Nay bị cáo xác định hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về người tham gia tố tụng: Xét thấy lời khai của Trần Văn H, Trần Quốc B1 có trong hồ sơ và lời khai anh H tại phiên tòa thì anh H, anh B1 không có nghĩa vụ hoặc quyền lợi gì trong vụ án này do đó không cần thiết đưa anh H, anh B1 tham gia tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Bản kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 52/QĐ-UBND ngày 20/6/2025 của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang (nay là phường L, tỉnh Đồng Tháp) trong thời hạn từ ngày 20/6/2025 đến 20/6/2027. Tuy nhiên, ngày 14/10/2025, bị cáo có hành vi sử dụng trái phép ma túy, ngày 15/10/2025, Công an xã T, tỉnh Đồng Tháp mời bị cáo làm việc, và xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể thông qua nước tiểu, kết quả hiển thị trên que xét nghiệm nhanh chất ma túy cho thấy bị cáo dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 1962/KL-KTHS ngày 22/10/2025 của Phòng thuật hình sự Công an tỉnh Đ, xác định: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của bị cáo.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Điều 256a Tội sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
…
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;
Về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng dược liệu, dược phẩm độc hại mà cụ thể trong vụ án này là chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, việc sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, mất khả năng lao động; làm suy thoái giống nòi, suy thoái nhân cách con người, gây ra các bệnh tật, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo đã được chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật về ma túy, bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có nộp tài liệu xác nhận bà N của Mẹ bị cáo có công Cách mạng, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng nên có xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) que teat nhanh ma túy loại 4 trong 1 sau khi đã test nhanh với nước tiểu của Trần Hồng P vào ngày 15/10/2025, ghi nhận dương tính với loại ma túy MET (Methamphetamine) MDMA và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu “FASTTEP”, tất cả niêm phong vào túi niêm phong chuyên dụng mã số PS3A – 100247 có các chữ ký của Trần Hồng P, Trương Nguyễn Công B, Huỳnh Thanh T1 và Trần Thanh H1 là vật chứng sau giám định cần lưu trữ theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Qua xem xét quan điểm của Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025
Tuyên bố bị cáo Trần Hồng P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Trần Hồng P 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) que teat nhanh ma túy loại 4 trong 1 sau khi đã test nhanh với nước tiểu của Trần Hồng P vào ngày 15/10/2025, ghi nhận dương tính với loại ma túy MET (Methamphetamine) MDMA và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu “FASTTEP”, tất cả niêm phong vào túi niêm phong chuyên dụng mã số PS3A – 100247 có các chữ ký của Trần Hồng P, Trương Nguyễn Công B, Huỳnh Thanh T1 và Trần Thanh H1 là vật chứng sau giám định
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 2 – Đồng Tháp; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Đồng Tháp; - Phân trại tạm giam Gò Công; - Trại tạm giam số 2 công an tỉnh Đồng Tháp;- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;- UBND xã (nơi bị cáo cư trú);- Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Bộ phận THA Hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Lắm |