- Tranh chấp gì? án hình sự — "LƯỜNG VĂN T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2026/HS - ST Ngày 24 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lù Văn Lả
Ông Lò Văn Sung
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2-Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn T. Tên gọi khác: Không có tên gọi khác
Sinh năm 1977. Tại: Điện Biên
Nơi cư trú: Bản P, xã T, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn H (đã chết) và con bà Lường Thị L (đã chết): Vợ: Lò Thị T1. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính; chưa bị kết án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2025 và tạm giam đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Nguyễn Thị Thu H1 - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ ngày 15/12/2025, tại khu vực bản H, xã T, tỉnh Điện Biên, tổ công tác Công an xã T, tỉnh Điện Biên phát hiện và bắt quả tang thu giữ tại túi quần bên phải của T 01 gói nilon màu xanh bên trong có một gói nilon màu xanh chứa các cục bột màu trắng nghi heroine và 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 08 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine.
Quá trình điều tra Lường Văn T khai nhận nguồn gốc các cục bột màu trắng và 08 viên nén màu hồng bị thu giữ của T là do khoảng 11 giờ ngày 15/12/2025, Lường Văn T mua được của một người đàn ông tự giới thiệu tên là Đ nhà ở bản L, xã T, tỉnh Điện Biên với giá 400.000 đồng. Địa điểm mua tại khu vực bản H, xã T, tỉnh Điện Biên. Mua xong, T cất gói ma túy mua được vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Khi đang trên đường về thì bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Điện Biên phát hiện và bắt quả tang thu giữ kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 15/12/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và bản Kết luận giám định số 1202/KL - KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lường Văn T ký hiệu M1 có khối lượng 0,04 gam là chất ma túy loại Heroine; ký hiệu M2 có khối lượng 0,81 gam là chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSKV2 ngày 09/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Lường Văn T về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,02 gam Heroine và 0,6 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 03 mảnh nilon màu xanh.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu H1 bào chữa cho bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 2- Điện Biên về việc truy tố và xét xử bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Không khiếu nại gì về các quyết định tố tụng; hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Đề nghị HĐXX áp dụng mức thấp nhất của hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Viện kiểm sát, người bào chữa không tranh luận gì. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, không bổ sung gì vào lời bào chữa của người bào chữa. Hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 12 giờ ngày 15/12/2025, tại khu vực bản H, xã T, tỉnh Điện Biên, tổ công tác Công an xã T, tỉnh Điện Biên phát hiện và bắt quả tang thu giữ tại túi quần bên phải của T 01 gói nilon màu xanh bên trong có một gói nilon màu xanh chứa các cục bột màu trắng nghi heroine và 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 08 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine.
Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo gồm 0,04 gam Heroine và 0,81 gam Methamphetamine. Bị cáo khai mục đích cất giấu Heroine và M để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép.
Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy gồm 0,04 gam Heroine và 0,81 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì 02 chất ma túy bị cáo tàng trữ đều được quy định trong cùng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự, cộng tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ là 0,85 gam. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng: Gồm 0,04 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,02 gam sau khi giám định); 0,81 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,6 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 03 mảnh nilon màu xanh không có giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người đàn ông tên Đ, cơ quan điều tra đã điều tra nhưng không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 15/12/2025).
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, с Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ: 0,04 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,02 gam sau khi giám định); 0,81 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,6 gam sau khi giám định) và 03 mảnh nilon màu xanh.
Vật chứng đã được Công an tỉnh Đ bàn giao sang phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/02/2026.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2026).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND KV2- Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên (PC04;PV06; - Trại tạm giam; - Bị cáo; - Người bào chữa: - T.H.A Dân sự tỉnh Điện Biên; - T.H.A HS; Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dương |