vanban.org

Bản án 50/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Đình C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Đình C 46 (Bốn sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phan Đình C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình C - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Đình C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2026/HS-ST
Ngày 13-05-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:1. Ông Lê Xuân Lâm; 2. Bà Hoàng Thị Kim.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thanh Hóa: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:

Phan Đình C, giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 21 tháng 4 năm 1994, tại xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn C, xã N, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; họ và tên bố: Phan Đình T (đã chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1 (không xác định được địa chỉ); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; họ và tên vợ: Vũ Thị T2, sinh năm 1994; hiện ở thôn L, xã N, tỉnh Thanh Hóa; bị cáo có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (Có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1992.

Địa chỉ: thôn L, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian diễn ra sự kiện World Cup năm 2022, Phan Đình C sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0827368678 nhắn tin đến số thuê bao 0977.686.226 đăng ký tài khoản Zalo “Tao Tùng Đ” của Nguyễn Ngọc T3 để đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá.

Ngày 24/11/2022, Phan Đình C và Nguyễn Ngọc T3 thực hiện việc cá độ bóng đá các trận T - Cameroon, U - Hàn Quốc và Bồ Đào N - Ghana với nhiều kèo cá cược khác nhau như kèo phạt góc, kèo tài xỉu, kèo tỉ số trận đấu. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc trong ngày là 39.350.000 đồng.

Ngày 25/11/2022, Phan Đình C và Nguyễn Ngọc T3 tiếp tục cá độ trận Hà Lan - E với số tiền sử dụng đánh bạc là 20.000.000 đồng.

Ngày 26/11/2022, Phan Đình C và Nguyễn Ngọc T3 cá độ trận A - Mỹ với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 20.000.000 đồng.

Ngày 27/11/2022, Phan Đình C và Nguyễn Ngọc T3 cá độ trận Nhật Bản - Costa Rica với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 30.000.000 đồng.

Ngày 28/11/2022, Phan Đình C và Nguyễn Ngọc T3 tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc đối với các trận Tây Ban Nha - Đức, Hàn Quốc - Ghana và B - T. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc trong ngày là 186.500.000 đồng, trong đó có 02 lần đánh bạc với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên.

Ngày 29/11/2022, Phan Đình C và Nguyễn Ngọc T3 cá độ trận Bồ Đào N - U1 với số tiền sử dụng đánh bạc là 10.000.000 đồng.

Như vậy, từ ngày 24/11/2022 đến ngày 29/11/2022, Phan Đình C đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá cược bóng đá World Cup năm 2022 với Nguyễn Ngọc T3, tổng cộng 10 lần, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 305.850.000 đồng, trong đó có 02 lần đánh bạc với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên.

Sau khi phạm tội, Phan Đình C đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Đến ngày 20/12/2025, Phan Đình C đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 04 điện thoại di động và 01 USB có liên quan đến vụ án để phục vụ công tác điều tra. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định phục hồi dữ liệu điện thoại, sim điện thoại. Tại Kết luận giám định số 2550/KL-KTHS ngày 19/7/2023 của V1 Bộ C1 kết luận lưu trữ tệp tin “dữ liệu.rar” trong 01 USB kèm theo kết luận giám định và trưng cầu giám định khôi phục, trích xuất dữ liệu. Tại Kết luận giám định số 6236/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của V1 Bộ C1 kết luận không phát hiện dữ liệu có liên quan đến các hành vi phạm tội.

Đối với các vật chứng gồm 04 điện thoại di động và 01 USB có liên quan đến Doãn Thị H, Lương Thị D, Lương Tuấn V, Mai Thị L, Lê Mai L1, Nguyễn Tùng H1 và một số đối tượng khác, Cơ quan điều tra tiếp tục thu giữ để xác minh, xử lý bằng vụ việc khác khi có đủ căn cứ.

Đối với Lê Mai L1, Nguyễn Tùng H1, Doãn Thị H, Lương Thị D, Lương Tuấn V và một số đối tượng khác có liên quan, quá trình điều tra xác định chưa đủ căn cứ xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật khi có căn cứ.

Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSKV10 ngày 10 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phan Đình C về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Đình C, về tội “Đánh bạc”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

- Hình phạt chính: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đối với Phan Đình C. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Đình C từ 46 đến 49 tháng tù về tội Đánh bạc, bị cáo được trừ đi thời gian giam giữ.

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, đề nghị xử phạt bổ sung bị cáo Phan Đình C từ 20 đến 25 triệu đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo phải nộp lại số tiền đánh bạc, thắng bạc để sung quỹ Nhà nước.

Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng gồm: 04 điện thoại di động và 01 USB có liên quan đến Doãn Thị H, Lương Thị D, Lương Tuấn V, Mai Thị L, Lê Mai L1, Nguyễn Tùng H1 và một số đối tượng khác, cơ quan điều tra tiếp tục thu giữ để xác minh, xử lý bằng vụ việc khác khi có đủ căn cứ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung gì với quan điểm của Đại diện VKSND khu vực 10 – Thanh Hóa.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Đình C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với dữ liệu điện tử được trích xuất, nội dung tin nhắn cá cược bóng đá, lời khai của người làm chứng Nguyễn Ngọc T3 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 24/11/2022 đến ngày 29/11/2022, Phan Đình C đã sử dụng điện thoại có số thuê bao 0827368678 nhắn tin qua tài khoản Zalo với Nguyễn Ngọc T3 để thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá các trận đấu World Cup năm 2022. Bị cáo cùng Nguyễn Ngọc T3 thực hiện tổng cộng 10 lần cá cược với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 305.850.000 đồng, trong đó có 02 lần đánh bạc với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên.

Hành vi của bị cáo Phan Đình C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng và nếp sống văn minh của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tệ nạn đánh bạc là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc trong thời gian diễn ra World Cup năm 2022; tổng số tiền sử dụng đánh bạc đặc biệt lớn, lên đến 305.850.000 đồng; trong đó có 02 lần đánh bạc với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đi lao động ở nước ngoài, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã. Đến ngày 20/12/2025, bị cáo mới đến đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị truy nã đã đến cơ quan điều tra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với các điện thoại di động, USB và dữ liệu điện tử đã được Cơ quan điều tra thu giữ, xử lý theo quy định của pháp luật; các vật chứng liên quan đến các đối tượng khác đang được tiếp tục xác minh, xử lý trong vụ việc khác nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Phan Đình C đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với Nguyễn Ngọc T3 trong thời gian diễn ra World Cup năm 2022. Căn cứ nội dung tin nhắn cá cược, lời khai của bị cáo, người làm chứng và tài liệu tổng hợp thể hiện kết quả thắng thua từng trận đấu, xác định tổng số tiền bị cáo Phan Đình C được hưởng từ việc thắng bạc là 119.412.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án xác định bị cáo đã thanh toán cho Nguyễn Ngọc T3 số tiền 8.000.000 đồng nên số tiền thực tế bị cáo còn được hưởng lợi từ hành vi phạm tội là 111.412.000 đồng.

Đây là khoản tiền bị cáo có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng biện pháp tư pháp truy thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 111.412.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Mai L1, Nguyễn Tùng H1, Doãn Thị H, Lương Thị D, Lương Tuấn V và một số đối tượng khác có liên quan, quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra tách hành vi để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 46; Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào các Điều 135, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Đình C phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt: Bị cáo Phan Đình C 46 (Bốn sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phan Đình C.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tiếp tục lưu giữ các vật chứng, tài liệu, dữ liệu điện tử đã được Cơ quan điều tra thu giữ để phục vụ việc điều tra, xử lý đối với các đối tượng có liên quan trong vụ việc khác theo quy định của pháp luật.

Biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo số tiền dùng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội là 111.412.000 đồng (Một trăm mười một triệu bốn trăm mười hai nghìn đồng).

4. Về án phí: Bị cáo Phan Đình C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ