vanban.org

Bản án 50/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Trọng H ly hôn với chị Tạ Bích D.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Huỳnh A (nam), sinh ngày 05/8/2023 cho chị Tạ Bích D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Trần Trọng H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp giữa anh H và chị D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Trọng H ly hôn với chị Tạ Bích D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2026/HNGĐ-ST
Ngày 16-3-2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng

Ông Bùi Xuân Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 16 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Trọng H, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 01/11/2022.

Cư trú tại: Ấp M, xã K, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Tạ Bích D, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là anh Trần Trọng H trình bày:

Về hôn nhân: Anh Trần Trọng H và chị Tạ Bích D tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau ngày 04/02/2015. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi. Nay anh H yêu cầu ly hôn với chị D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Trần Huỳnh A (nam), sinh ngày 05/8/2023, hiện nay chị D đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh H giao con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Tạ Bích D đúng theo quy định pháp luật, nhưng chị D không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 02/02/2026, nguyên đơn anh Trần Trọng H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật; bị đơn chị Tạ Bích D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị D.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Trọng H và chị Tạ Bích D tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã K, tỉnh Cà Mau) ngày 04/02/2015 đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị D được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của anh Trần Trọng H, thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, chị D vắng mặt không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với anh H. Hiện nay anh H không còn tình cảm yêu thương chị D và quyết tâm mong muốn được ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Trường hợp tiếp tục chung sống với chị D sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị D.

Về con chung: Khi ly hôn, anh H giao con chung tên Trần Huỳnh A (nam), sinh ngày 05/8/2023 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, trong thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân, chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Hiện nay con chung còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp của người mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở điều kiện nuôi dưỡng con sau khi ly hôn của chị D và bảo đảm quyền lợi của con chung sau khi ly hôn nên cần giao cháu Trần Huỳnh A cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh H không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của anh D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51 56, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Trọng H ly hôn với chị Tạ Bích D.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Huỳnh A (nam), sinh ngày 05/8/2023 cho chị Tạ Bích D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Trần Trọng H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Trọng H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí sơ thẩm: Anh Trần Trọng H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 12/01/2026, anh Trần Trọng H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Biên lai số 0000411 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ