- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Neáng P"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Neáng P, chị Neáng P được ly hôn với anh Danh Phú Q;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2026/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 3 - 2026 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Hoàng,
- Ông Lê Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên toà: Bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 377/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 09/2026/TB-TA ngày 24 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Neáng P, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ 03, ấp A, xã N, tỉnh A;
- Bị đơn: Anh Danh Phú Q, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp T, xã N, tỉnh A;
- Người phiên dịch: Ông Chau xi Nê.
Chị Neáng P có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Danh Phú Q vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Neáng P trình bày: Chị và anh Q xây dựng hôn nhân dựa trên sự mai mối của hai bên cha mẹ đi đến hôn nhân và tổ chức đám cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hảo, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang (nay là xã Núi Cấm, tỉnh An Giang) theo giấy chứng nhận số 80/2023 ngày 31/07/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2024 khi chị sinh được một đứa con thì đời sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung; anh Q bỏ chị và con về sống với cha mẹ từ thời gian đó cho đến nay. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Danh Phú Q.
Quá trình chung sống, chị và anh Q có 01 con chung tên Danh Thái Bắc, sinh ngày 24/06/2024. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.
Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được, do Danh Phú Q vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, hôn nhân giữa bà P và ông Q được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hảo (nay là xã Núi Cấm), tỉnh An Giang, nên hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân, làm cho hôn nhân của bà P và ông Q lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ngoài ra, tại (Bút lục số 18) biên bản xác minh ngày 12/01/2026 ông Chau Đốs, Phó ấp An Lợi cho biết khoảng năm 2024 khi bà P sinh được đứa con thì ông Q bỏ về An Thạnh sinh sống cùng cha mẹ ruột cho đến nay, việc vợ chồng bà P và ông Q mâu thuẫn như thể nào Ban ấp không rõ và ông Q đã nhận trực tiếp các văn bản tống đạt của Tòa án, nhưng ông Q cũng không thể hiện ý kiến của mình. Nên việc bà P yêu cầu ly hôn với ông Q là có cơ sở chấp nhận và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung, cháu Danh Thái Bắc, sinh ngày 24/6/2024 từ khi ly thân đến nay, do bà P chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện nay cháu chưa đủ 7 tuổi. Để đảm bảo tâm sinh lý và quyền lợi của con, nên giao cháu Bắc cho bà P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Q được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở ông Q thực hiện quyền này.
Về tài sản chung và nợ chung: Khai không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn có nơi cư trú thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
[1.2] Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
Về nội dung:
Chị Neáng P với anh Danh Phú Q chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Hảo, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang (nay là xã Núi Cấm, tỉnh An Giang) theo giấy chứng nhận số 80/2023 ngày 31/07/2023, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải thương yêu, Q trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hiện tại chị Neáng P với anh Danh Phú Q đã không sống chung với nhau từ khi chị P sinh con đến nay, theo Biên bản xác minh tại ấp A, xã N, tỉnh A;Tòa án tiến hành hòa giải, cũng như xét xử vụ án, anh Q vắng mặt, từ đó cho thấy anh Q không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên hôn nhân giữa chị Neáng P với anh Danh Phú Q không hạnh phúc, kéo dài sẽ gây đau khổ cho nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Neáng P với anh Danh Phú Q theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chị Neáng P với anh Danh Phú Q có con chung Danh Thái Bắc, sinh ngày 24/06/2024 do chị P nuôi dạy; chị P yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu anh Qúy cấp dưỡng nuôi dạy con chung, nên để con chung cho Neáng P nuôi dạy là phù hợp, anh Qúy không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Chị P khai không có tài sản chung, nợ chung, anh Q không yêu cầu xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Cảnh không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 4, 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Neáng P, chị Neáng P được ly hôn với anh Danh Phú Q;
Chị Neáng P được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Danh Thái Bắc, sinh ngày 24/6/2024; Anh Danh Phú Q không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Chị Neáng P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Danh Phú Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Chị Neáng P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0010413 ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; Chị Neáng P đã nộp đủ án phí.
Anh Danh Phú Q không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Neáng P và anh Danh Phú Q được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 14 – An Giang; - Tòa án tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 14 – An Giang; - Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ, - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |