vanban.org

Bản án 50/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 13/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Đ 30 ( ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025 Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50 /2025/HS-ST
Ngày: 13 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Nguyễn Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP . xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/HS-ST ngày 14 tháng 04 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 04 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm Minh Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 31/5/1995 tại TP . Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: tổ B, phường T, quận H, TP.Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Phạm H và bà Nguyễn Thị T; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai; Vợ : Hồ Thị Mỹ H1. Bị cáo có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 06/7/2021, bị UBND phường H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường theo quyết định số 219/QĐ-UBND; Ngày 29/9/2022 bị TAND quận Hải Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 35/2022/QĐ-TA; Ngày 11/2/2025 bị Công an Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 42/QĐ-XPHC. Bị cáo bị bắt ngày 09/01/2025, hiện tạm giam có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Quý Đ1, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Tổ B, phường N, quận S, TP ., vắng mặt.

- Ông Võ Trường T1, sinh năm: 2004. Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

- Bà Đặng Thị L, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Thôn C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

- Ông Dương Quốc P, sinh năm: 2004. Địa chỉ: Thôn C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11giờ 15 phút ngày 09/01/2025, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an quận Q phối hợp với lực lượng Cảnh sát 113 Công an thành phố Đ trong lúc tuần tra kiểm soát đến khu vực trước nhà số A Đ, P. K, Q. N, TP.Đà Nẵng thì phát hiện Phạm Minh Đ điều khiển xe mô tô Wave màu vàng BKS 76AM-038.00 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Đ đang cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

* Tang vật thu giữ của Đ: 01 gói nilong bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (Niêm phong ký hiệu D1); 01 xe mô tô, nhãn hiệu Wawe, màu trắng, BKS 76AM-038.00, số khung RLHJA3932RYA105668, số máy: JA70E0418121, dung tích 109.2 cm3; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, gắn sim số 0762.014.444. Niêm phong ký hiệu D2. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Minh Đ, không thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì khác. Theo Kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K kết luận: Tinh thể rắn, màu trắng trong mẫu ký hiệu D1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu D1 là 2.148 gam.

Quá trình điều tra, từ lời khai nhận của Phạm Minh Đ và các vật chứng thu giữ xác định: Khoảng 10h00 phút ngày 09/01/2025, khi đang ở nhà của mình tại địa chỉ K T, P. H, Q. H, TP ., Đ nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên sử dụng điện thoại Iphone màu hồng, gắn sim số 0762.014.444 liên hệ đến số 0906.206.737 của người thanh niên mà Đ biết trước (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 2.000.000 (hai triệu) đồng ma túy đá thì người này đồng ý và yêu cầu Đ chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản M số 0788530969 mang tên “LEQUYDON”. Lúc này, Đ sử dụng điện thoại, đăng nhập vào tài khoản E của Đ số 310539797979 chuyển khoản số tiền 2.050.000 (Hai triệu, năm mươi nghìn) đồng đến tài khoản người bán cung cấp (trong đó 2.000.000 đồng là tiền Đ mua ma túy, còn 50.000 đồng là Đ cho người bán ma túy). Sau đó, người bán hẹn Đ đến khu vực cuối đường H, thành phố Đà Nẵng để lấy ma túy, Đ điều khiển xe mô tô Wawe, màu trắng, BKS 76AM-038.00 mượn của anh Võ Trường T1 (tỉnh Quảng Ngãi) đến điểm hẹn rồi liên lạc lại cho người bán thì người bán chỉ Đ chạy đến bụi cỏ ven đường H, thành phố Đà Nẵng nhặt gói ma túy để trong khẩu trang màu xanh. Theo chỉ dẫn của người bán, Đ đến vị trí trên, lấy gói ma túy rồi bỏ vào trong túi quần bên phải và điều khiển xe rời đi. Khi Đ đi đến khu vực trước nhà số A Đ, P. K, Q. N, TP . thì bị Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an quận Q phối hợp với lực lượng Cảnh sát 113 Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Tính tới thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ, Phạm Minh Đ đã liên hệ đến số điện thoại 0906.206.737 để mua ma túy khoảng 06 lần, mỗi lần mua với số tiền từ 500.000 đồng đến 2.100.000 đồng đều bằng hình thức chuyển tiền đến tài khoản 0788530969 mang tên “LEQUYDON”.

Tiến hành tra cứu thông tin các số điện thoại và tài khoản ngân hàng liên quan đến việc mua bán ma túy xác định tài khoản M số 0788530969 mang tên “LEQUYDON”, chủ tài khoản là Lê Quý Đ1. Tiến hành làm việc với Đ1, Đ1 khai nhận vào ngày 28/10/2024 Đ1 được người bạn tên H2 (chưa xác định lai lịch) là bạn bè ngoài xã hội của Đ1 xin thông tin cá nhân để mở giùm tài khoản ngân hàng thì Đ1 đồng ý và đi đến ngân hàng M1 chi nhánh H3, sử dụng thông tin cá nhân của mình để mở tài khoản sau đó Đ1 giao tài khoản trên cho H2 sử dụng, việc H2 sử dụng tài khoản này vào mục đích gì Đ1 không biết và số điện thoại 0788.530.969 dùng để đăng kí theo thông tin ngân hàng là của H2, Đ1 không sử dụng số điện thoại này và cũng không quen biết người nào tên Phạm Minh Đ. Hiện tại tài khoản ngân hàng M2 đã bị phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 656 ngày 08/4/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ.

Đối với các số điện thoại 0788.530.969 đăng ký thông tin tài khoản ngân hàng M “LEQUYDON” và 0906.206.737 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã có văn bản yêu cầu nhà mạng Mobifone cung cấp thông tin tuy nhiên đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời.

Tiến hành cho Phạm Minh Đ nhận dạng đối với người tên Lê Quý Đ1 nghi bán ma túy thì Đ không nhận dạng được. Quá trình điều tra, Phạm Minh Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-NHS ngày 18/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. xử phạt: Phạm Minh Đ từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Minh Đ, Cơ quan CSĐT C đã ra quyết định xử phạt 1.500.000 đồng.

- Đối với Lê Quý Đ1 chủ tài khoản ngân hàng M số 0788530969 mang tên “LEQUYDON” mở giùm cho người tên H2, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch của người tên H2, Phạm Minh Đ cũng không nhận dạng được người đã bán ma túy cho Đ nên chưa đủ căn cứ để xác định Đ1 hay H2 có phải là người bán ma túy hay không. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ H2, Đ1 xử lý sau.

- Đối với người sử dụng các số điện thoại 0906.206.737; 0788.530.969 có hành vi mua bán ma túy, hiện chưa xác định nhân thân lai lịch những người này, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ những người này, xử lý sau.

- Đối với người tên T2 giới thiệu cho Đ mua ma túy hiện chưa xác định nhân thân lai lịch của người này, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ những người này, xử lý sau.

- Đối với chị Đặng Thị L là chủ sở hữu xe mô tô Honda Wawe BKS BKS 76AM-038.00 và cho con trai là Dương Quốc P sử dụng làm phương tiện đi lại. Vào ngày 01/01/2025, anh P cho Võ Trường T1 mượn, T1 sử dụng xe đến ngày 08/01/2025 thì T1 cho Phạm Minh Đ mượn. Chị L, anh P, anh T1 không biết Đ sử dụng xe trên để mua ma túy, Ngày 4/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ không đề cập xử lý là có căn cứ.

- Đối với những lần Phạm Minh Đ tự khai mua ma túy trước đó và đã sử dụng hết, Cơ quan Công an không thu giữ được ma túy của những lần này, đã thực hiện xác minh không có căn cứ xác định nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Wawe màu trắng, BKS 76AM-038.00 qua điều tra xác định xe trên là của chị Đặng Thị L làm chủ sở hữu, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho bà Đặng Thị L là có căn cứ.

- Đối với 01( một) bì niêm phong ký hiệu D1 là mẫu giám định hoàn trả kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 23 ngày 10/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sợ K đề nghị cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu I phone màu hồng (Trong bì niêm phong D2), liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với sim số 0762.014.444, niêm phong ký hiệu D2, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Hiện tất cả vật chứng đang được tạm giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự quận N, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2025.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo trong thời gian bị tạm giam đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Khoảng 11h15 phút ngày 09/01/2025, tại khu vực trước nhà số A Đ, P. K, Q. N, TP.Đà Nẵng, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an quận Q phối hợp với lực lượng Cảnh sát 113 Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Phạm Minh Đ đang tàng trữ 2.148 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục sử dụng.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Ma túy là một loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nhà nước ta nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt sử dụng trái phép các chất ma túy, nếu ai vi phạm một trong các quy định trên, gây hậu quả đều bị pháp luật trừng trị và xử lý. Bị cáo nhận thức được điều này nhưng vẫn cố ý thực hiện tàng trữ trái phép tàng trữ trái phép 2.148 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi này là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Do vậy cần xử phạt với bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội gây ra nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 06/7/2021, bị UBND phường H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường theo quyết định số 219/QĐ-UBND; Ngày 29/9/2022 bị TAND quận Hải Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 35/2022/QĐ-TA; Ngày 11/2/2025 bị Công an Q xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 42/QĐ-XPHC. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình;bị cáo là bộ đội xuất ngũ nên nên cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Honda Wawe màu trắng, BKS 76AM-038.00 qua điều tra xác định xe trên là của chị Đặng Thị L làm chủ sở hữu, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho bà Đặng Thị L là có căn cứ.

- Đối với 01( một) bì niêm phong ký hiệu D1 là mẫu giám định hoàn trả kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 23 ngày 10/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sợ K cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu I phone màu hồng (Trong bì niêm phong D2), liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với sim số 0762.014.444, niêm phong ký hiệu D2, cần tịch thu tiêu hủy.

Hiện tất cả vật chứng đang được tạm giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự quận N, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2025.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Minh Đ, Cơ quan CSĐT C đã ra quyết định xử phạt 1.500.000 đồng.

Đối với Lê Quý Đ1 chủ tài khoản ngân hàng M số 0788530969 mang tên “LEQUYDON” mở giùm cho người tên H2, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch của người tên H2, Phạm Minh Đ cũng không nhận dạng được người đã bán ma túy cho Đ nên chưa đủ căn cứ để xác định Đ1 hay H2 có phải là người bán ma túy hay không. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ H2, Đ1, xử lý sau.

Đối với người sử dụng các số điện thoại 0906.206.737; 0788.530.969 có hành vi mua bán ma túy, hiện chưa xác định nhân thân lai lịch những người này, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ những người này, xử lý sau.

Đối với người tên T2 giới thiệu cho Đ mua ma túy hiện chưa xác định nhân thân lai lịch của người này, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra làm rõ những người này, xử lý sau.

Đối với chị Đặng Thị L là chủ sở hữu xe mô tô Honda Wawe BKS BKS 76AM-038.00 và cho con trai là Dương Quốc P sử dụng làm phương tiện đi lại. Vào ngày 01/01/2025, anh P cho Võ Trường T1 mượn, T1 sử dụng xe đến ngày 08/01/2025 thì T1 cho Phạm Minh Đ mượn. Chị L, anh P, anh T1 không biết Đ sử dụng xe trên thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với những lần Phạm Minh Đ tự khai mua ma túy trước đó và đã sử dụng hết, Cơ quan Công an không thu giữ được ma túy của những lần này, đã thực hiện xác minh không có căn cứ xác định nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000đ.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự ; Điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Đ 30 ( ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

T3 tịch thu tiêu hủy gồm: 01 ( một) bì niêm phong ký hiệu D1 là mẫu giám định hoàn trả kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 23 ngày 10/01/2025 của Phòng K; sim số 0762.014.444 (trong bì niêm phong ký hiệu D2).

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu I phone màu hồng ( trong bì niêm phong ký hiệu D2).

Hiện tất cả vật chứng đang được tạm giữ tại cơ quan Thi hành án dân sự quận N, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2025.

3/ Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ