- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thế D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Thế D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày 27- 9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình, ông Nguyễn Thành Vương.
- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Huệ - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.
- Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Sơn La: Ông Đỗ Tràng Dũng.
- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La: Ông Nguyễn Quang Huy.
- Cán bộ chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu: Ông Hà Tuấn Anh và ông Sồng Trái Dủa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 16/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST- HS ngày 17/9/2025 đối với bị cáo:
Hà Thế D, sinh ngày 02/02/1984 tại T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Bản S, xã T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hà Văn Đ và bà Hà Thị K (đã chết); bị cáo có vợ là Mùi Thị H và 02 con; tiền án; tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 09/7/2025, tổ công tác Công an phường M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại tổ dân phố T, phường M tiến hành kiểm tra đối với Hà Thế D đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên phải D đang mặc có 02 gói nilon, bên trong 01 gói nilon màu trắng đựng chất bột màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine và 01 gói nilon màu xanh đựng chất bột màu hồng nghi là ma túy, loại Methamphetamine. D khai nhận đó là số ma túy, loại Hồng phiến và Heroine của D mua về mục đích để bản thân sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Thế D, thu giữ niêm phong vật chứng để điều tra xử lý.
Ngày 09/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La tiến hành xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Hà Thế D, kết quả:
+ Chất bột màu trắng có khối lượng 0,068 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu D1.
+ Chất bột màu hồng được 0,038 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu D2.
Tiến hành Test thử ma túy đối với Hà Thế D cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine và Heroine .
Tại kết luận giám định số: 770 ngày 14/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“- Mẫu giám định D1 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,068 gam.
- Mẫu ký hiệu D2 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,038 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,068 gam; Loại Heroine và 0,038 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra Hà Thế D khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, Duyệt đi từ nhà tại bản S, xã T, tỉnh Sơn La đến tổ dân phố C, phường M, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Trên đường dân sinh thuộc tổ dân phố C, D đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết, qua trao đổi D đã hỏi và mua được của người đàn ông 01 gói Heroine và 01 gói bột Hồng phiến, bên ngoài gói chung bằng mảnh nilon màu trắng với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D lấy ra một ít và dùng bật lửa ga cùng mảnh giấy bạc mang theo để sử dụng bằng cách đốt hít khói vào cơ thể. Sau đó D vứt chiếc bật lửa và mảnh giấy bạc đi, gói số ma túy còn lại cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc và đi bộ về nhà. Khi đi về đến tổ dân phố T, phường M thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT- VKS ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị cáo Hà Thế D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hà Thế D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) xử phạt Hà Thế D từ 03 năm đến 03 năm, 06 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng còn lại vụ Hà Thế D, bắt ngày 09/7/2025 (các mảnh nilon màu trắng và màu xanh)”.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hà Thế D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 50.000 đồng vào ngày 09/7/2025, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hà Thế D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên ngày 09/7/2025. Hà Thế D đã có hành vi tàng trữ 0,068 gam Heroin và 0,038 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự) quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Hà Thế D không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng còn lại vụ Hà Thế D, bắt ngày 09/7/2025 (các mảnh nilon màu trắng và màu xanh)”. Xét thấy, đây là những vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về án phí: Bị cáo Hà Thế D cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự).
Tuyên bố: Bị cáo Hà Thế D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Hà Thế D 03 (Ba) năm, 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 09/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng còn lại vụ Hà Thế D, bắt ngày 09/7/2025 (các mảnh nilon màu trắng và màu xanh)”.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 6 - Sơn La. - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La. - Thi hành án hình sự; - Trại giam Công an tỉnh Sơn La. - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hương |