- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày: 25-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Lâm;
2. Bà Lê Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Đình H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 05 tháng 3 năm 1998 tại xã T, thành phố Hải Phòng. Căn cước công dân số: 030098009953; Nơi cư trú: Đ, thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/9/2025, bị tạm giam từ ngày 15/9/2025 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn P (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Sầm Thị L, sinh năm 1956. Vắng mặt.
2. Anh Hoàng Trọng T, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn.
3. Chị Hoàng Như H1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Sầm Thị L, anh Hoàng Trọng T và chị Hoàng Như H1: Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
4. Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962. Địa chỉ: Đ, thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Người làm chứng: Chị Lý Thị Kim N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/9/2025, Nguyễn Đình H điều khiển xe mô tô biển số 34AA-341.67 chở bạn gái là Lý Thị Kim N đi từ khu A, xã H, tỉnh Lạng Sơn đến siêu thị G, tỉnh Bắc Ninh để xem phim. Sau khi xem phim xong, khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Đình H điều khiển xe mô tô chở Lý Thị Kim N đi theo quốc lộ A hướng Hà Nội - Lạng Sơn để về xã H. Khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Đình H điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 40km/h đến 50km/h trên phần đường bên phải theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn; khi đi đến Km87+200 Quốc lộ 1 thuộc địa phận thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn, khi đó có ánh đèn của xe ô tô đi ngược chiều làm Nguyễn Đình H bị chói mắt nhưng Nguyễn Đình H không giảm tốc độ nên đâm trúng vào ông Hoàng Văn P đang đi bộ cùng chiều phía trước, khiến ông Hoàng Văn P, Nguyễn Đình H và Lý Thị Kim N bị ngã xuống đường, xe mô tô bị đổ văng về phía trước. Sau đó, Nguyễn Đình H cùng người dân đã đưa ông Hoàng Văn P vào Trung tâm Y tế khu vực H, tỉnh Lạng Sơn cấp cứu nhưng cùng ngày, ông Hoàng Văn P đã tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra tai nạn là đường 02 chiều, đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường rải nhựa bằng phẳng, khô, rộng 12,4m, trong đó phần đường bên phải rộng 6m, phần đường bên trái rộng 6,4m; giữa đường có đinh phản quang, vạch tim đường đã không còn rõ. Mỗi chiều xe chạy có vạch phân chia các làn xe cùng chiều, dạng vạch đơn, liền nét, đã mờ không còn rõ. Tiếp tuyến giao nhau giữa quốc lộ 1 với đường dân sinh rộng 8m (cách vị trí xe mô tô biển số 34AA-341.67 trên hiện trường theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn là 30m). Mở rộng hiện trường về hướng Hà Nội 141m, phía bên phải đường hướng Hà Nội - Lạng Sơn có biển báo nguy hiểm “giao nhau với đường không ưu tiên”. Vị trí xảy ra va chạm cách mép đường nhựa bên phải theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn là 3,3m và nằm trong vùng biển báo có hiệu lực.
Tại phiếu chỉ định xét nghiệm của Trung tâm Y tế K, tỉnh Lạng Sơn lập ngày 06/9/2025 đối với Nguyễn Đình H, thể hiện: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 0,0mmol/l và âm tính với các chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 779/KL-KTHS ngày 20/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Không tìm thấy Ethanol và các chất ma túy thường gặp trong mẫu máu gửi giám định thu của Hoàng Văn P.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 763/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Lạng Sơn kết luận: Nguyên nhân chết của Hoàng Văn P do chấn thương sọ não, thời gian chết của tử thi so với thời điểm giám định tử thi là dưới 24 giờ.
Tại bản Kết luận giám định kỹ thuật số 142/GĐKT-ĐK ngày 08/10/2025 của Công ty Cổ phần Đ, kết luận: Tại thời điểm kiểm tra xe mô tô biển số 34AA-341.67, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 142/KL-HĐĐG ngày 04/11/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 34AA-341.67 tại thời điểm định giá tháng 9/2025 là 597.000 đồng.
Sau khi xảy ra sự việc, Nguyễn Đình H đã tác động đến gia đình để thăm hỏi, bồi thường cho gia đình bị hại Hoàng Văn P với tổng số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ tiền, không còn yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án, sau khi điều tra làm rõ, xác định Nguyễn Đình H là chủ sở hữu xe mô tô biển số 34AA-341.67, cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn S - Là người đại diện theo ủy quyền của bị cáo. Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 34AA-341.67, cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn để xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSKV4 ngày 10/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Đình H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn S trình bày quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại. Đối với số tiền bồi thường 150.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn S không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại số tiền này.
Người làm chứng chị Lý Thị Kim N trình bày tối ngày 05/9/2025, bị cáo có điều khiển xe mô tô biển số 34AA-341.67 chở chị đến siêu thị G, tỉnh Bắc Ninh để xem phim. Sau khi xem phim xong, khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô chở chị về theo quốc lộ 1 hướng Hà Nội - Lạng Sơn để về xã H. Khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến Km87+200 Quốc lộ 1 thuộc địa phận thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn thì đâm vào ông Hoàng Văn P đang đi bộ cùng chiều phía trước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không đề nghị giải quyết.
Về dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo Nguyễn Đình H có nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Xác nhận đã thi hành xong ngày 14/9/2025.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến đối đáp, tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình H đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; các bản kết luận giám định, phiếu xét nghiệm nồng độ cồn, chất ma túy; các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 05/9/2025, tại Km87+200 Quốc lộ 1 thuộc địa phận thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Đình H điều khiển xe mô tô biển số 34AA-341.67 đi trên phần đường bên phải theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn, do không có giấy phép lái xe mô tô, không nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong trường hợp có biển cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường nên đã đâm vào ông Hoàng Văn P đang đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả: Ông Hoàng Văn P tử vong. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét về mức độ lỗi: Bị cáo Nguyễn Đình H trong quá trình tham gia giao thông đã không tuân thủ đúng các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ như điều khiển xe tham gia giao thông mà không có giấy phép lái xe theo quy định, không chấp hành biển báo, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, dẫn đến tai nạn nên đã vi phạm khoản 4 Điều 3, điểm b khoản 3 Điều 12, khoản 1 Điều 56 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Đối với ông Hoàng Văn P là người đi bộ nhưng không đi sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình trong trường hợp đường không có vỉa hè, lề đường, đường dành riêng cho người đi bộ, đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định lỗi trong vụ tai nạn giao thông là lỗi hỗn hợp và là lỗi vô ý.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Để quyết định hình phạt, ngoài việc xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; chưa từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có 04 tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là lao động tự do; không có chức vụ, nghề nghiệp hay công việc nhất định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nghĩa vụ dân sự: Đại diện gia đình bị hại đã được gia đình bị cáo bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng (bao gồm các khoản: Tiền mai táng phí; bồi thường tổn thất tinh thần, ....); đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và cam kết không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S cũng tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại số tiền đã bồi thường. Hội đồng xét xử thấy rằng ý chí thỏa thuận của các bên liên quan là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên cần ghi nhận sự tự nguyện theo quy định của Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự.
Về xử lý vật chứng: Xác nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trả lại xe mô tô biển số 34AA-341.67 cho ông Nguyễn Văn S - Là người đại diện theo ủy quyền của bị cáo, đồng thời chuyển giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 34AA-341.67 đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn để xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không có giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực. Ngày 11/12/2025, Trạm Cảnh sát giao thông Tùng Diễn thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi vi phạm nêu trên là phù hợp quy định của pháp luật.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường do đã thi hành xong trước khi xét xử.
Đối với ông Hoàng Văn P là người đi bộ nhưng không đi sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình trong trường hợp đường không có vỉa hè, lề đường, đường dành riêng cho người đi bộ, tuy nhiên ông Hoàng Văn P đã tử vong nên không xem xét xử lý.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, phù hợp với các nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 591 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 292, khoản 4 Điều 328, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Về hình phạt
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/12/2025).
Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Đình H, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú trong việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về nghĩa vụ dân sự
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo Nguyễn Đình H có nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Xác nhận đã thi hành xong theo Biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại lập ngày 14/9/2025.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 4 - Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 4 - Lạng Sơn; - Phân trại tạm giam H - Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Đạt |