- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lục Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày 17-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quang Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Ông Nông Thế Hạp.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3
- Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lục Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 29 tháng 11 năm 1993 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; nơi ở hiện nay: Xóm N, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lục Văn D, sinh năm 1967 và bà Bế Thị N, sinh năm 1970; vợ: Lý Thị T, sinh năm 1993; con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 13/7/2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cao Bằng chủ trì phối hợp với Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng phát hiện Lục Văn M đang đứng ven đường có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước, bên phải Lục Văn M đang mặc có 02 gói giấy bạc màu vàng chứa các cục chất bột màu trắng. M khai số chất bột màu trắng trên là ma túy, loại Heroine, mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, để điều tra, làm rõ.
Hồi 22 giờ 30 phút, ngày 13/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng và các thành phần liên quan tiến hành mở niêm phong cân vật chứng thu giữ của Lục Văn M có khối lượng 0,27 gam.
Tại kết luận giám số 340/KL-KTHS ngày 20/7/2025 của Phòng K, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Chất bột lẫn cục bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine".
Tại cơ quan điều tra, Lục Văn M khai: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2024, loại ma túy sử dụng là Heroine. Sáng 13/7/2025, M đi xe buýt từ nhà đến xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng mua ma túy với một người đàn ông không quen biết với số tiền 1.000.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, M đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, M đi ra đoạn đường nội đồng thuộc xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng để sử dụng ma túy, M chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Vật chứng của vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng ban hành Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật.
Hành vi của Lục Văn M đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV3 ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố Lục Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lục Văn M khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận nội dung bản cáo trạng phản ánh đúng hành vi bị cáo thực hiện. Mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lục Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Văn M từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định; giấy gói ma túy, vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo: Xét lời khai bị cáo Lục Văn M tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng, như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/7/2025, tại đoạn đường nội đồng thuộc xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng, Lục Văn M bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra về ma túy Công an tỉnh Cao Bằng và Công an xã Đ, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang về hành vi tàng trữ 0,27 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Lục Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về nhân thân: Bị cáo Lục Văn M là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên cần được chấp nhận.
. Hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Việc xử lý vật chứng:
Vật chứng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm, vật chứng giấy gói, vở phong bì niêm phong ban đầu không có giá trị sử dụng thì tịch thu, tiêu hủy.
. Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo bị bắt: Khi bị bắt bị cáo khai nhận mua ma túy với người đàn ông không quen biết. Quá trình điều tra không làm rõ được người bán ma túy cho bị cáo là ai. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Lục Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Văn M 03 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 13/7/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Số: 340/KL-KTHS hoàn lại mẫu sau giám định vụ Lục Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 03 (ba) hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Cao Bằng.
01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu vụ Lục Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/7/2025. Mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 03 ngày 21 tháng 10 năm 2025. 4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lục Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - CQ CSĐTCA tỉnh Cao Bằng; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Cao Bằng; - PC 10 CA tỉnh Cao Bằng; - VKSND khu vực 3 - Cao Bằng; - Phân trại tạm giam Trùng Khánh; - Phòng THADSKV3 - Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Quang Toàn |