vanban.org

Bản án 50/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 06/5/2025). Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
_________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HS - ST
Ngày 24 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vì Thị Xôm

Ông Kim Khánh Tùng

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức Th. Tên gọi khác: Không có. Sinh năm 1972

Tại: Điện Biên

Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, phường M, tỉnh Điện Biên.

Trước đây là: Tổ dân phố 5, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức Th và con bà Đoàn Thị L (đã chết): Vợ: Không có. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án; Có 01 tiền án. Ngày 18/5/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 05/11/2020 bị Công an thành phố Điện Biên Phủ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong Quyết định xử lý vi phạm hành chính, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 29/11/1995, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Biên Phủ xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 29/8/1997, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội tổ chức sử dụng chất ma túy; Ngày 21/12/2010, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt bị cáo 08 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Các bản án này bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/5/2025 và tạm giam đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ ngày 06/5/2025, Tổ công tác Công an phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên phối hợp với phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tuyên truyền pháp luật tại tổ dân phố 5, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Nay là tổ dân phố 5, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên). Khi đến nhà Nguyễn Đức Th, thấy có biểu hiện về tội phạm ma túy, tổ công tác đã vào vận động giải thích thì Th lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 túi nilon màu xanh bên trong có 11 gói chất bột màu trắng nghi Heroine và 01 gói nilon màu trắng bên trong có 03 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn Đức Th khai nhận nguồn gốc 03 viên nén màu hồng và các cục bột màu trắng bị thu giữ là do vào khoảng 19 giờ ngày 05/5/2025, Nguyễn Đức Th đi bộ từ nhà đến bờ mương thuộc khu vực tổ dân phố 4 – Khe Chít, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Nay là tổ dân phố 4, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên) thì Th gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 cục Heroine và 03 viên Methamphetamine với giá 250.000 đồng mục đích đem về sử dụng cho bản thân. Mua xong Th đem số ma túy vừa mua được về nhà dùng tay chia thành 11 gói Heroine và 01 gói bên trong có 03 viên Methamphetamine sau đó Th cất tất cả 12 gói ma túy vào túi quần bên phải đằng trước đang mặc và bị phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 06/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và các bản Kết luận giám định số 404/KL - KTHS ngày 12/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức Th gồm vật chứng gửi giám định thứ tự từ M1 đến M11 có khối lượng 0,8 gam là chất ma túy loại Heroine. Khối lượng M12 có khối lượng 0,28 gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSKV2 ngày 19/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Th về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự; điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,39 gam Heroine và 0,25 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 túi nilon màu xanh; 05 mảnh giấy màu trắng; 03 mảnh giấy bạc màu trắng; 02 mảnh giấy màu đen; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilnon màu trắng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 11 giờ ngày 06/5/2025, Tổ công tác Công an phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên phối hợp với phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tuyên truyền pháp luật tại tổ dân phố 5, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (Nay là tổ dân phố 5, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên). Khi đến nhà Nguyễn Đức Th, thấy có biểu hiện về tội phạm ma túy, tổ công tác đã vào vận động giải thích thì Th lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 túi nilon màu xanh bên trong có 11 gói chất bột màu trắng nghi Heroine và 01 gói nilon màu trắng bên trong có 03 viên nén màu hồng nghi Methamphetamine.

Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo gồm 0,8 gam Heroine và 0,28 gam Methamphetamine. Bị cáo khai mục đích cất giấu Heroine và Methamphetamine để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy gồm 0,8 gam Heroine và 0,28 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì 02 chất ma túy bị cáo tàng trữ đều được quy định trong cùng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, cộng tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ là 1,08 gam. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại thời điểm xét xử bị cáo, Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên Điều 249 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 so với Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 không có lợi cho bị cáo. Vì vậy căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự 2015 để xét xử đối với hành vi của bị cáo.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Ngày 05/11/2020 bị Công an thành phố Điện Biên Phủ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong Quyết định xử lý vi phạm hành chính, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 29/11/1995, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Biên Phủ xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 29/8/1997, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội tổ chức sử dụng chất ma túy; Ngày 21/12/2010, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt bị cáo 08 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Các bản án này bị cáo đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngày 18/5/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. ngày 13/10/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Bản án này của bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải. Bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Đức Thông được thưởng Huân chương nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" và "tình tiết giảm nhẹ khác" theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật nên cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng: Gồm 0,8 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,39 gam sau khi giám định); 0,28 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,25 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 túi nilon màu xanh; 05 mảnh giấy màu trắng; 03 mảnh giấy bạc màu trắng; 02 mảnh giấy màu đen; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilnon màu trắng không có giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người đàn ông bị cáo không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 06/5/2025).

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu tiêu huỷ: 0,8 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,39 gam sau khi giám định); 0,28 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,25 gam sau khi giám định) và 05 mảnh giấy màu trắng; 03 mảnh giấy bạc màu trắng; 02 mảnh giấy màu đen; 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilnon màu trắng; 01 túi nilon màu xanh.

Vật chứng đã được Công an tỉnh Điện Biên bàn giao sang phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 25/8/2025.

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2025).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ