vanban.org

Bản án 50/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 21/07/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HS-PT
Ngày: 21 – 7 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Minh Tự

Ông Nguyễn Văn Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bé Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2025/HSPT, ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Mai Xuân V, do có kháng cáo của bị cáo Mai Xuân V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HSST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long)

- Bị cáo có kháng cáo: Mai Xuân V, sinh ngày 07/02/1978, nơi sinh tại Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp C, xã A, tỉnh Vĩnh Long). Nghề nghiệp: Làm hồ; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn B, (đã chết) và bà Lê Thị T, (đã chết); có vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1978; Con: Có 02 người; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự vào ngày 26/02/2024 Công an huyện C ra quyết định xử phạt hành chính số 59/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc trái phép. Bị cáo chấp hành đóng phạt ngày 29/02/2024. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/12/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi liên quan không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10 tháng 10 năm 2024, bị cáo Mai Xuân V đi ruộng về ngang quán nước mía của Mai Quốc K, sinh năm 1981, địa chỉ ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì ghé vào chơi. Tại đây bị cáo V gặp Mai Thị T1, sinh năm 1946, Phạm Thị B1, sinh năm 1965 cùng địa chỉ ấp D, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh và Mai Quốc K cả bốn người cùng tham gia đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền. Cả bốn người cùng thống nhất hình thức chơi bài gồm 04 tụ bài, người thắng ván trước là người chia bài ván kế, mỗi tụ bài có 20 lá bài, riêng tụ bài của người chia bài là 21 lá bài, bộ bài tứ sắc dùng để tham gia đánh bạc có sẵn trong quán của K. Cách chơi là trong bài có 01 cây lẻ gọi là rác sẽ đánh bỏ, ai có 02 hoặc 03 cây bài giống nhau thì ăn lấy cây bài đó. Khi bài ai không còn cây lẻ nào trong bài thì người đó thắng. Cách xác định thắng chia làm 02 loại: Nếu trong bài có ít nhất 04 cây giống nhau (gọi là tứ quý) thì ván đó tới quan, ngược lại tới trơn; người nào tới quan thì 03 người còn lại thua mỗi người 2.000 đồng cho người thắng, tức người nào tới quan sẽ thắng được 6.000 đồng; người nào tới trơn thì 03 người còn lại thua mỗi người 1.000 đồng cho người thắng, tức người tới trơn thắng được 3.000 đồng.

Bị cáo sử dụng số tiền 10.000 đồng để tham gia đánh bạc, trong quá trình chơi bài thua cả 03 ván số tiền 4.000 đồng, Mai Thị T1 thua 02 ván đầu số tiền 2.000 đồng, thắng ván thứ 3 thắng được 6.000 đồng, Công an thu giữ 17.000 đồng, Phạm Thị B1 không có mang theo tiền để tham gia đánh bạc, thua cả 03 ván số tiền 4.000 đồng, Mai Quốc K thắng 02 ván đầu tiên số tiền 6.000 đồng, thua ván thứ 3 số tiền 2.000 đồng, Công an thu giữ số tiền 34.000 đồng để trên chiếu bạc. Bốn người chơi được 03 ván bài, ván bài thứ 4 đang chơi thì bị Công an xã A kiểm tra và lập biên bản tạm giữ đồ vật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HSST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh) đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Mai Xuân V phạm tội “Đánh bạc”

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo bị cáo Mai Xuân V 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bắt bị cáo chấp hành án phạt tù.

- Xử phạt bổ sung bị cáo Mai Xuân V 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/4/2025, bị cáo Mai Xuân V kháng cáo Bản án số 21/2025/HSST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long) xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Mai Xuân V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử. Về tội danh bị cáo không ý kiến. Bởi vì, bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng hành vi của bị cáo. Về hình phạt bị cáo giữ nguyên yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo, vì bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo là người có công cách mạng nên mong Hội đồng xét xử xem xét.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Mai Xuân V về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về hình phạt trong vụ án này mặc dù số tiền thu được trên chiếu bạc là 51.000 đồng không đủ định lượng trong cấu thành cơ bản tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên, trước đó bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên lần đánh bạc này bị cáo sử dụng 10.000 đồng để đánh bạc là hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo bị cấp sơ xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù so với số tiền, điều kiện, hoàn cảnh bị cáo phạm tội với số tiền bị cáo dùng để đánh bạc có phần nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 09 (chín) tháng tù xuống 03 (ba) tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo Mai Xuân V: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo được Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Đánh bạc”. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ diễn biến quá trình tham gia đánh bạc giữa bị cáo và những người khác, số tiền thu được trên chiếu bạc và số tiền bị cáo dùng để đánh bạc như nhận định của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Mai Xuân V phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vì, bị cáo thừa nhận trước đó bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo nộp phạt vào ngày 29/02/2024, xem như chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm.

Về hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày xảy ra vụ án là ngày bị cáo đi làm ruộng, khi đi về ngang bị cáo ghé vào quán nước mía của Mai Quốc K để uống nước, sau đó tham gia đánh bạc. Xét về mục đích có mặt tại quán không vì mục đích đánh bạc, số tiền 51.000 đồng bị phát hiện, thu giữ trên chiếu bạc, trong số tiền này bị cáo dùng để tham gia đánh bạc là 10.000 đồng (bị cáo thua 4.000 đồng, còn lại 6.000 đồng). Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 (chín) tháng tù nhưng không xem xét điều kiện, hoàn cảnh dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và số tiền trên chiếu bạc, số tiền bị cáo dùng để đánh bạc nên mức hình phạt 09 (chín) tháng tù là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay xét thấy có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được nêu trong bản án sơ thẩm và xét thấy việc không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện, khả năng để giáo dục bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, sửa bản án sơ thẩm.

Quan điểm Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, sửa án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 09 tháng tù xuống còn 03 tháng tù. Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét nhưng không có cơ sở chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo có cơ sở chấp nhận nên bị cáo Mai Xuân V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Mai Xuân V

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HSST ngày 02/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long)

Tuyên bố bị cáo Mai Xuân V phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Mai Xuân V 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 21/7/2025.

- Xử phạt bổ sung bị cáo Mai Xuân V 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Mai Xuân V cho Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Mai Xuân V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ