vanban.org

Bản án 50/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 20/05/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, về việc xin hưởng án treo.

Giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Đánh bạc" đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, về việc xin hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HS-PT.
Ngày: 20/5/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;

Các Thẩm phán:

Ông Hồ Văn Phụng;

Ông Nguyễn Thành Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 20/5/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2025/TLPT-HS ngày 02/4/2025 đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Nhựt T; Sinh ngày: 01/01/1965; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng X và bà Nguyễn Thị L; Có chồng là ông Liên Văn M, sinh năm 1960 và 01 người con sinh năm 1990; Tiền án: Không; Có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 40/QĐ-XPHC ngày 31/3/2023 của Trưởng Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng, Nguyễn Nhựt T bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 7.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép (nộp phạt ngày 08/5/2023); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)

2. Nguyễn Thị K; Sinh ngày: 01/01/1972; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Huỳnh Thị H; Có chồng là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974 và 02 người con, người con lớn sinh năm 1993 và người con nhỏ sinh năm 1999; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T1, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị Huyền T2; Người làm chứng Đinh Thị H2, Nguyễn Văn H3, Hồ Thanh T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, lực lượng Công an huyện L phối hợp Công an xã P, huyện L tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi đánh bạc với hình thức chơi bài binh 06 lá, ăn thua bằng tiền tại căn phòng bên trong căn nhà của Nguyễn Thị K ở ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Các đối tượng gồm: Nguyễn Thị Bích T1, Nguyễn Thị Huyền T2, Nguyễn Thị S1, Võ Thị H1, Nguyễn Nhựt T, Lê Thị L1, Đinh Thị H2, Hồ Thanh T3, và Nguyễn Văn H3. Đồng thời, lực lượng Công an tiến hành thu giữ tại hiện trường các vật chứng có liên quan.

Qua quá trình điều tra, xác minh, các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024, Nguyễn Thị Bích T1 đến nhà Nguyễn Thị K chơi thì gặp S1, H1, L1, sau đó thì H2, T2 và Bích T1 đến sau, cả nhóm hỏi mượn căn phòng bên trong căn nhà của K để tham gia đánh bạc trái phép, hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, khi ai thắng sẽ cho tiền Két từ 5.000 đồng, 10.000 đồng, 20.000 đồng tùy vào người thắng và được K đồng ý. Khi vào bên trong căn phòng của nhà K thì H1, S1, L1, T2, Bích T1, Nhựt T cùng sử dụng bài tây mà Nhựt T, S1 và H1 góp mỗi người 20.000 đồng để mua. Bộ bài tây có tổng cộng 52 lá bài nhưng đã được bỏ đi 12 quân tây nên chỉ còn lại 40 lá bài. Khi tham gia đánh bạc sẽ gồm 04 tụ bài, có 01 tụ bài nhà cái và 03 tụ bài tay em sẽ đặt cược, những người không ngồi tụ xem bài sẽ ké tiền vào tụ bài mà họ muốn đặt hoặc thạnh vào tụ nhà cái nếu được nhà cái đồng ý. Bắt đầu ván bạc, 03 tụ bài tay em sẽ đặt cược tiền xuống, những người không ngồi tụ sẽ ké tiền vào tụ bài họ muốn. Tiếp đó, nhà cái sẽ chia đều cho 04 tụ, mỗi tụ 06 lá bài để mỗi tụ bài tự sắp xếp bài. Sau đó, nhà cái sẽ mở bài và phân định thắng, thua với từng tụ bài đặt cược rồi chung tiền cho nhau là kết thúc ván bài. Mỗi người sẽ làm cái vài ván bài, làm xoay vòng và không cố định cho một người, ai không làm có thể chuyển cho người tiếp theo. Theo vòng lặp thì L1 ngồi bên phải S1, chuẩn bị làm cái thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà những người tham gia dùng đánh bạc trái phép là 6.013.000 đồng, trong đó:

- Thu giữ tại hiện trường số tiền là 700.000 đồng (trong đó, 200.000 đồng của Lê Thị L1, 100.000 đồng của Nguyễn Thị Huyền T2, 100.000 đồng của Nguyễn Thị Bích T1, 300.000 đồng của Nguyễn Thị S1).

- Thu giữ trên người dùng để đánh bạc gồm: Bích T1 đem theo 2.600.000 đồng và dùng số tiền này vào việc đánh bạc nhưng thua 270.000 đồng, còn 2.330.000 đồng bị tạm giữ; T2 đem theo 885.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc, thắng 100.000 đồng nên bị tạm giữ 985.000 đồng; S1 đem theo 600.000 đồng và dùng số tiền này vào việc đánh bạc, lúc bị bắt không thắng không thua; H1 đem theo 1.640.000 đồng, dùng 400.000 đồng vào việc đánh bạc; T1 đem theo 498.000 đồng và dùng số tiền này vào việc đánh bạc, lúc bị bắt không thắng không thua và L1 đem theo 23.110.000 đồng, dùng 500.000 đồng vào việc đánh bạc, còn lại 22.610.000 đồng là tiền đóng hụi và tiêu xài cá nhân. Riêng đối với Nguyễn Thị K không tham gia đánh bạc nhưng cho mượn địa điểm là căn phòng bên trong căn nhà của K cho những người nêu trên tham gia đánh bạc trái phép để thu tiền xâu, nhưng chưa thu được tiền xâu thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, đối với H2 bị thu giữ số tiền 665.000 đồng nhưng tại thời điểm bị bắt quả tang thì H2 đã nghỉ không tham gia chơi đánh bạc, T3 bị thu giữ 9.930.000 đồng là tiền gom hụi của các hụi viên và tiền tiêu xài cá nhân, không liên quan đến hành vi đánh bạc và H3 đem theo 539.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép nhưng chưa tham gia thì bị bắt.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Thị Bích T1, Nguyễn Thị K.

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T.

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Thị S1, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị Huyền T2.

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích T1, Nguyễn Nhựt T, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S1, Lê Thị L1, Võ Thị H1 và Nguyễn Thị Huyền T2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T1 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.

- Xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị S1, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị Huyền T2, mỗi bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/02/2025.

- Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về việc giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã giám sát, giáo dục đối với bị cáo được hưởng án treo, hậu quả pháp lý của người hưởng án treo khi vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

* Ngày 06/3/2025, bị cáo Nguyễn Thị K kháng cáo xin hưởng án treo.

* Ngày 07/3/2025, bị cáo Nguyễn Nhựt T kháng cáo xin hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Nguyễn Thị K và Nguyễn Nhựt T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), riêng bị cáo Nguyễn Thị K áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật. Xét Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, mỗi bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được áp dụng. Ngoài ra, không còn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ các bị cáo được hưởng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép nên không đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với bị cáo Nguyễn Thị K đủ điều kiện để được xem xét có thể cho hưởng án treo, tuy nhiên trong vụ án này bị cáo K giữ vai trò chính trong vụ án, chính bị cáo K là người cung cấp địa điểm cho các bị cáo khác đánh bạc và bị cáo thu tiền xâu nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận cho bị cáo K hưởng án treo. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Nói lời sau cùng tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 06/3/2025; Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhựt T lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 07/3/2025 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Căn cứ vào các điều 342 và 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K như sau: Vào lúc khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024, Nguyễn Thị Bích T1 đến nhà Nguyễn Thị K chơi thì gặp S1, H1, L1, sau đó thì H2, T2 và Bích T1 đến sau, cả nhóm hỏi mượn căn phòng bên trong căn nhà của K để đánh bạc trái phép theo hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, khi ai thắng sẽ cho tiền Két từ 5.000 đồng, 10.000 đồng, 20.000 đồng tùy vào người thắng và được K đồng ý. Khi vào bên trong căn phòng của nhà của K thì H1, S1, L1, T2, Bích T1, Nhựt T cùng sử dụng bài tây mà Nhựt T, S1 và H1 góp mỗi người 20.000 đồng để mua. Bộ bài tây có tổng cộng 52 lá bài nhưng đã được bỏ đi 12 quân tây nên chỉ còn lại 40 lá bài. Khi tham gia đánh bạc sẽ gồm 04 tụ bài, có 01 tụ bài nhà cái và 03 tụ bài tay em sẽ đặt cược, những người không ngồi tụ xem bài sẽ ké tiền vào tụ bài mà họ muốn đặt hoặc thạnh vào tụ nhà cái nếu được nhà cái đồng ý. Bắt đầu ván bạc, 03 tụ bài tay em sẽ đặt cược tiền xuống, những người không ngồi tụ sẽ ké tiền vào tụ bài họ muốn. Tiếp đó, nhà cái sẽ chia đều cho 04 tụ, mỗi tụ 06 lá bài để mỗi tụ bài tự sắp xếp bài. Sau đó, nhà cái sẽ mở bài và phân định thắng, thua với từng tụ bài đặt cược rồi chung tiền cho nhau là kết thúc ván bài. Mỗi người sẽ làm cái vài ván bài, làm xoay vòng và không cố định cho một người, ai không làm có thể chuyển cho người tiếp theo. Theo vòng lặp thì L1 ngồi bên phải S1, chuẩn bị làm cái thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà những người tham gia dùng đánh bạc trái phép là 6.013.000 đồng, trong đó, thu giữ tại chiếu bạc số tiền là 700.000 đồng và số tiền dùng để đánh bạc được thu giữ trên người của Bích T1 là 2.330.000 đồng, của T2 là 985.000 đồng, của S1 là 600.000 đồng, của H1 là 400.000 đồng, của Nhựt T là 498.000 đồng, của L1 là 500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Nguyễn Thị Bích T1, Nguyễn Nhựt T, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S1, Lê Thị L1, Võ Thị H1 và Nguyễn Thị Huyền T2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhựt T, về việc xin hưởng án treo: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Nhựt T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Bích T1 là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào mức độ, tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T mức án 09 tháng tù là phù hợp. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định không còn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ bị cáo được hưởng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo. Xét bị cáo Nguyễn Nhựt T là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép nên không đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị K, về việc xin hưởng án treo: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thị K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị K là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào mức độ, tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị K, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K mức án 09 tháng tù là phù hợp. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định không còn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ bị cáo được hưởng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo. Xét bị cáo Nguyễn Thị K bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và có nơi cư trú rõ ràng là có đủ điều kiện có thể xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, trong vụ án này, mặc dù bị cáo Nguyễn Thị K không tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác nhưng bị cáo là người giữ vai trò chính trong vụ án, chính bị cáo là người cung cấp địa điểm cho các bị cáo khác đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc nhóm hành vi tổ chức đánh bạc nhưng do không đủ các yếu tố pháp lý khác nên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm. Việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K của bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K, về việc xin hưởng án treo.

Giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Nhựt T và Nguyễn Thị K của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị K.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.

4. Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử buộc bị cáo Nguyễn Nhựt T chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

- Xử buộc bị cáo Nguyễn Thị K chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

5. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ