vanban.org

Bản án 50/2025/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị V.

Bà Trương Thị V được ly hôn với ông Nìm Cún D. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nìm Khang A, sinh ngày 22/10/2008 cho bà Trương Thị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, bà Trương Thị V không yêu cầu ông Nìm Cún D cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vân-Dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2025.
“V/v: Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triều Châu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài

Ông Đặng Quang Hoạch

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1069/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/11/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị V, sinh năm 1990.

Trú tại: khu A, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nìm Cún D, sinh năm 1982.

Trú tại: đường C, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn - bà Trương Thị V, trình bày:

Bà và ông Nìm Cún D tự nguyện tìm hiểu nhau, có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận số 52 ngày 12/6/2009.

Quá trình chung sống ban đầu bình thường đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông D không tu chí làm ăn mà hay nhậu nhẹt, say xỉn, không phụ bà nuôi con, mọi sinh hoạt trong nhà đều do bà lo. Tuy nhiều lần khuyên bảo nhưng ông D không nghe nên xảy ra cãi vã, thậm chí còn đánh bà. Bà và con đã dọn ra ngoài sống gần một năm nay, phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc nhau, thời gian này ông D cũng không đến thăm con hay hàn gắn tình cảm. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông D và yêu cầu xét xử vắng mặt.

Về con chung: Bà và ông D có 01 con chung là cháu Nìm Khang A, sinh ngày 22/10/2008. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà đang làm công nhân mức lương khoảng hơn 8.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn – ông Nìm Cún D: Vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử về xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung vụ án: Quá trình chung sống giữa bà Trương Thị V và ông Nìm Cún D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà V được ly hôn với ông D; Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nìm Khang A, sinh ngày 22/10/2008 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm thời, ông D không cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu. Về tài sản chung: Bà V không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về nợ chung: Bà V khai không có, do chưa lấy được lời khai của ông D nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Bà V phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Xét thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nìm Cún D cư trú tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị V và ông Nìm C Dưỡng kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được cấp giấy chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện T ngày 12/6/2009 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D từ chối nhận các văn bản tố tụng và không đến Tòa án làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với những yêu cầu khởi kiện của bà V là tự từ bỏ quyền chứng minh của mình. Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ cho vợ chồng khi không có sự hợp tác của ông D. Ngoài ra, biên bản xác minh về tình trạng quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông D tại Ủy ban nhân dân xã S (BL 22), thể hiện: Địa phương không nắm được và cũng không nhận được đơn yêu cầu hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Khi xảy ra mâu thuẫn, các đương sự tự giải quyết với nhau mà không nhờ chính quyền địa phương can thiệp, hòa giải nên tình trạng mâu thuẫn kéo dài và không khắc phục được. Ngoài ra, gần 01 năm nay bà V và con đã dọn ra ngoài sống, ly thân từ đó cho đến nay. Do đó, cần xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông D là có thật, ông D không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ, không quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà V, mâu thuẫn đã phát sinh trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.

. Về con chung: Bà V và ông D có 01 con chung là cháu Nìm Khang A, sinh ngày 22/10/2008. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là phù hợp vì bà có công việc, thu nhập ổn định (BL 31), cháu A có nguyện vọng ở với mẹ và ông D cũng không có tranh chấp về nuôi con chung. Tạm thời, bà V không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung: Bà V không yêu cầu giải quyết trong vụ án. Ông D vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về nợ chung: Bà V trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết. Ông D vắng mặt không có ý kiến nên không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 147, 220, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị V.

1. Bà Trương Thị V được ly hôn với ông Nìm Cún D.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nìm Khang A, sinh ngày 22/10/2008 cho bà Trương Thị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, bà Trương Thị V không yêu cầu ông Nìm Cún D cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nìm Cún D được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Bà Trương Thị V phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000209 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà V đã nộp đủ án phí.

Báo cho bà V và ông D biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ