- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồng-Tý"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/6/2025 V/v “Ly hôn, quyền nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thạch
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thông Thái
2. Ông Phạm H Sơn
- Thư ký phiên tòa: ông Văn H Lễ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân - Gia đình, thụ lý số: 88 /2025/TLST-HNGĐ, ngày 05/3/2025, về việc: “Ly hôn, quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXX ngày 23/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thu H - sinh năm 1988
Địa chỉ: thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: ông Nguyễn T - sinh năm 1985
Địa chỉ: khu phố 14, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, về việc ly hôn đề ngày 28/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Nguyễn T xác lập quan hệ vợ cH vào năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, đến năm 2009 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 89/2009, ngày 01/10/2009. Thời gian đầu vợ cH sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ cH thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nên hay cải vả nhau không thể hàn gắn được. Từ năm 2017 đến nay vợ cH đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai.
Bà có liên lạc yêu cầu ông T đến Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng ông không chịu đi.
Nay bà nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ cH không còn tình cảm nữa, cuộc sống vợ cH đã chấm dứt từ lâu, tại Tòa hôm nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn T.
- Về con chung: có 04 con chung tên Nguyễn Anh Kiệt - sinh ngày 16/4/2006 (đã thành niên); Nguyễn Quốc Đạt - sinh ngày 11/7/2009; Nguyễn Anh Khôi - sinh ngày 10/5/2011 và Nguyễn Minh Đăng - sinh ngày 13/01/2014, hiện nay 03 đứa con chung đang ở với ông T tại khu phố 14, thị trấn Liên Hương. Nếu ly hôn, bà đồng ý giao 03 con chung cho ông T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các con cho đến khi thành niên. Bà không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn T vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đảm bảo đúng pháp luật.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.
- Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn T.
- Về con chung: 03 con chung là Nguyễn Quốc Đạt - sinh ngày 11/7/2009, Nguyễn Anh Khôi - sinh ngày 10/5/2011 và Nguyễn Minh Đăng - sinh ngày 13/01/2014 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Kim H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn T và giao các con chưa thành niên cho ông T được tiếp tục quyền trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các con đến khi thành niên. Xét yêu cầu của nguyên đơn và nơi cư trú của bị đơn, thì đây là vụ kiện:“Ly hôn và quyền trực tiếp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong - tỉnh Bình Thuận.
Đối với ông Nguyễn T, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, ông T có mặt tại nơi cư trú, nhưng ông T không hợp tác từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông T cố tình lẫn tránh không đến Toà án làm việc, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
Do bị đơn vắng mặt, Tòa án không thu thập được chứng cứ từ phía bị đơn, nên Tòa án giải quyết vụ kiện theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án và yêu cầu của đương sự:
2.1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim H và ông Nguyễn T xác lập quan hệ vợ cH từ năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Liên Hương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: UBND thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 89/2009, ngày 01/10/2009 là tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà H trình bày, thời gian chung sống của vợ cH không có hạnh phúc, lý do là vợ cH thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nên hay cải vả nhau không thể hàn gắn được. Kể từ năm 2017 đến nay vợ cH đã sống ly thân, vợ cH không còn quan tâm đến nhau nữa, bà không đồng ý trở lại đoàn tụ và yêu cầu được ly hôn với ông T.
Như vậy, có cơ sở khẳng định đến thời điểm này, hôn nhân giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không đạt được hạnh phúc, cuộc sống chung vợ cH không thể kéo dài được nữa, nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung: có 04 con chung tên Nguyễn Anh Kiệt - sinh ngày 16/4/2006 (đã thành niên); Nguyễn Quốc Đạt - sinh ngày 11/7/2009; Nguyễn Anh Khôi - sinh ngày 10/5/2011 và Nguyễn Minh Đăng - sinh ngày 13/01/2014, hiện nay 03 con chưa thành niên đang ở với ông T tại khu phố 14, thị trấn Liên Hương. Nếu ly hôn, bà H đồng ý giao 03 con chung cho ông T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các con cho đến khi thành niên. Bà H không cấp dưỡng nuôi con.
Các con đã trên 07 tuổi hiện nay ông T quản lý và nuôi dưỡng, do ông T không hợp tác, nên Tòa án không ghi nhận được nguyện vọng của các con. Để đảm bảo tính ổn định trong cuộc sống và sinh hoạt của con, nên cần được duy trì quyền trực tiếp nuôi con đối với ông T là phù hợp với nguyện vọng của bà H.
2.3. Về tài sản chung và nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay, là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định như trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
2. Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Thị Kim H ly hôn với ông Nguyễn T.
- Về con chung: giao 03 con chưa thành niên tên Nguyễn Quốc Đạt - sinh ngày 11/7/2009, Nguyễn Anh Khôi - sinh ngày 10/5/2011 và Nguyễn Minh Đăng - sinh ngày 13/01/2014 cho ông T tiếp tục được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục 03 con cho đến khi thành niên.
Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được ngăn cản bà H quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: bà H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí của bà H đã nộp, tại biên lai thu tiền số: 0007455 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, nên án phí đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/6/2025). Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án này theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKS (tỉnh + huyện); - Chi cục THA huyện; - Đương sự - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thạch |