vanban.org

Bản án 50/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc Hà.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ Linh chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Ngọc Duy (sinh ngày 15/02/2020, hiện đang sống với bà Linh) cho đến khi cháu Duy đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ Linh - Huỳnh Ngọc Hà"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc Hà.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐÀ NẴNG
--------
Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: Ly hôn, tranh chấp con chung
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ái Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Hoanh

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chung

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thùy Trang – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 11 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc tham gia phiên toà: bà Võ Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Đà Nẵng tham xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh; địa chỉ: 177 Nguyễn Kim Cương, ấp 1A, xã Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh; (nay là 177 Nguyễn Kim Cương, ấp 1A, xã Phú Hoà Đông, thành phố Hồ Chí Minh); có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc Hà, địa chỉ: thôn Hà Dục Đông, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Hà Dục Đông, xã Thượng Đức, thành phố Đà Nẵng); vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 4 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Linh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh và ông Huỳnh Ngọc Hà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ). Quá trình chung sống giữa ông bà thường nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đến tháng 01/2025 thì mâu thuẫn trầm trọng nên ông bà sống ly thân, bỏ mặc không quan tâm gì đến nhau. Ông Hà không có việc làm ổn định, thường xuyên thay đổi chỗ ở, cố tình giấu địa chỉ cư trú không cho bà Linh biết, vợ chồng chỉ liên lạc qua điện thoại.

Nay bà Linh xét thấy hạnh phúc vợ chồng đã thực sự tan vỡ, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc Hà để bà được tự do định đoạt cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: vợ chồng có 01 cháu là Huỳnh Ngọc Duy (sinh ngày 15/02/2020), hiện đang sống với bà Linh. Nay ly hôn bà Linh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Duy cho đến khi cháu Duy đủ 18 tuổi. Bà Linh không yêu cầu ông Hà cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung bà Linh khai không yêu cầu Tòa can thiệp.

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn Huỳnh Ngọc Hà đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng cố tình trốn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu yêu cầu và ý kiến, không tham gia giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc phát biểu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định pháp luật.

Đối với nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ Linh thực hiện việc khởi kiện, cung cấp chứng cứ và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình. Riêng đối với bị đơn Huỳnh Ngọc Hà dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác hợp lệ nhưng cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do chính đáng là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Linh và ông Hà đã thật sự trầm trọng, tình yêu không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Linh được ly hôn với ông Hà. Về con chung đề nghị giao cháu Huỳnh Ngọc Duy (sinh ngày 15/02/2020, đang sống với bà Linh) cho bà Linh trực tiếp chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Duy đủ 18 tuổi. Bà Linh không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung bà Linh khai không yêu cầu Tòa can thiệp, ông Hà vắng mặt không nêu ra ý kiến và yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh khởi kiện ly hôn đối với ông Huỳnh Ngọc Hà có hộ khẩu thường trú tại thôn Hà Dục Đông, xã Thượng Đức, thành phố Đà Nẵng. Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 11

- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Huỳnh Ngọc Hà đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ tham gia giải quyết vụ án nhưng cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Huỳnh Ngọc Hà vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ Linh và ông Huỳnh Ngọc Hà thì thấy ông bà đã xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên khi giải quyết vụ án.

Xét thực trạng quan hệ hôn nhân của Ông Hà, bà Linh thì thấy: Theo lời khai của bà Linh và kết quả xác minh thể hiện: Trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, hiện vợ chồng sống ly thân, chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc nhau. Bà Linh cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên cương quyết xin ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ông Hà, bà Linh đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Linh, xử cho bà Linh được ly hôn với ông Hà là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Xét lời khai của bà Linh về quan hệ con chung phù hợp với các chứng cứ, tài liệu về hộ tịch và kết quả xác minh, thể hiện ông Hà và bà Linh có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Duy (sinh ngày 15/02/2020), hiện sống với bà Linh. Bà Linh hiện có việc làm và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Ông Hà hiện không có mặt tại nơi cư trú. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Linh về việc giao cháu Duy cho bà Linh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên chấp nhận.

Bà Linh không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bà Linh khai không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Ông Hà vắng mặt không nêu ra ý kiến và yêu cầu của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà Linh phải chịu án phí kiện xin ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc Hà.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mỹ Linh chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Ngọc Duy (sinh ngày 15/02/2020, hiện đang sống với bà Linh) cho đến khi cháu Duy đủ 18 tuổi.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Huỳnh Ngọc Hà có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Án phí kiện xin ly hôn số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Linh đã nộp theo biên lai thu số 0017044 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc (cũ).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích luật thi hành án dân sự).

Cỡ chữ