- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "* Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên T2 (TFSVN); địa chỉ: P, tầng A S, F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; * Bị đơn: anh Nguy…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên T2.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2025/DS- ST Ngày 22 tháng 5 năm 2025 V/v “T/c hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Sỹ Danh Huệ
2. Ông Nguyễn Văn Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên tòa:
Bà Vi Thị Ngọc Kim – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2025/TLDS - ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HPT ngày 19 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HPT ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên T2 (TFSVN); địa chỉ: P, tầng A S, F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Bích H - chức vụ: Tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: ông Đào Hoàng H1 - chức vụ: Trưởng phòng cao cấp Phòng thu hồi nợ, theo văn bản uỷ quyền số 22/UQ-CEO.23; đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Mạnh H2 theo Hợp đồng ủy quyền số 04/UQ.TT-TFSVN-ĐLS; người được ủy quyền lại: ông Nguyễn Đức Đ – Chuyên viên theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2024.
* Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; nơi đăng ký hộ khẩu: đội C, thôn V, xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án tại: đội A, phân trại số B, Trại giam S – Cục A – Bộ C, địa chỉ: xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 02 năm 2024 của nguyên đơn, cũng như bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức Đ trình bày:
Ông Nguyễn Văn T ký Hợp đồng cấp tín dụng số 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 với Công ty TNHH Một thành viên T2 sau đây gọi tắt là (TFSVN); cụ thể như sau:
- Tổng số tiền: 1.330.000.000 (665.000.000 đồng/1 hợp đồng); thời hạn vay: 85 tháng;lãi suất vay: 8.99%/năm, lãi suất này được điều chỉnh sau mỗi 03 tháng, hiện nay lãi suất áp dụng cho Hợp đồng tín dụng này là 8.99%/năm. Ngoài ra, nếu bên vay không thanh toán đúng hạn theo lịch thanh toán, phải chịu lãi suất quá hạn tương đương 150% lãi suất vay tại thời điểm tương ứng cho phần chậm thanh toán.
Tài sản bảo đảm: 02 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hilux, cụ thể như sau:
- Tài sản bảo đảm thứ nhất: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587.
- Tài sản bảo đảm thứ hai: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674.
Ông Nguyễn Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với TFSVN và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Tạm tính đến ngày 19/02/2024, ông Nguyễn Văn T còn nợ TFSVN khoản tiền là: tổng cộng: 1.393.346.008 đồng; nợ gốc: 1.330.000 đồng; Nợ lãi: 60.479.188 đồng; lãi quá hạn: 2.866.820 đồng .
Để bảo vệ quyền và lợi ích của Công ty TNHH Một thành viên T2, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết các vấn đề sau:
a. Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ đối với TFSVN, trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 19/02/2024 khoản tiền này là: tổng cộng: 1.393.346.008 đồng; nợ gốc: 1.330.000 đồng; Nợ lãi: 60.479.188 đồng; lãi quá hạn: 2.866.820 đồng .
b. Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, các Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng cấp tín dụng đã ký cho đến ngày ông Nguyễn Văn T trả hết nợ cho TFSVN.
c. Yêu cầu Tòa án buộc trong bản án/Quyết định nội dung: Ông Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, TFSVN có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho TFSVN là: 02 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hilux, cụ thể như sau:
- Tài sản bảo đảm thứ nhất: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587.
- Tài sản bảo đảm thứ hai: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674.
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo hoà giải của Toà án nhân dân huyện Quốc Oai. Tuy nhiên do anh T đang chấp hành án tại: đội A, phân trại số B, Trại giam S – Cục A – Bộ C, địa chỉ: xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An nên anh làm đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt có xác nhận của ban giám thị trại giam và có quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tôi có ký các hợp đồng tín dụng với TFSVN, gồm: Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023; cụ thể như sau: Tổng số tiền: 1.330.000.000 (665.000.000 đồng/ 1 hợp đồng); Thời hạn vay: 85 tháng; Lãi suất vay: Theo thoả thuận 2 bên đã ký trong hợp đồng.
Tài sản bảo đảm của các khoản vay nêu trên là: 02 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hilux, cụ thể như sau:
- Tài sản bảo đảm thứ nhất: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587.
- Tài sản bảo đảm thứ hai: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674.
Sau khi ký hợp đồng vay vốn, tôi đã được TFSVN giải ngân số tiền trên đồng thời dùng tiền kinh doanh nhưng do làm ăn thua lỗ nên tôi đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với TFSVN. Nay TFSVN khởi kiện, tôi đề nghị TFSVN tạo điều kiện cho tôi có thời gian để thu xếp trả nợ gốc và xin được miễn giảm toàn bộ nợ lãi để tôi có điều kiện trả nợ. Trường hợp tôi không thu xếp được tiền trả cho TFSVN thì TFSVN xử lý tài sản thế chấp tôi cũng phải chấp nhận.
Trong quá trình thụ lý và giải quyết Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của đương sự; Thông báo bổ sung người tham gia tố tụng; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Do các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án, vì vậy Tòa án không hòa giải được cho các đương sự.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày 19/4/2025 và phiên toà ngày 14/5/2025 do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, Tòa án đã hoãn phiên tòa. Phiên tòa được mở lại vào ngày ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”. Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải thanh toán cho TFSVN tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2025 theo hợp đồng tín dụng với TFSVN, gồm: Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 là 1.592.349.940 đồng; nợ gốc: 1.330.000.000 đồng; Nợ lãi: 213.210.674 đồng; lãi quá hạn: 49.139.266 đồng; Và buộc bị đơn tiếp tục phải chịu lãi suất theo lãi được thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng với TFSVN, gồm: Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 kể từ ngày 23/5/2025 cho đến khi bị đơn trả hết nợ.
Đối với tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Cụ thể:
Anh Nguyễn Văn T đã tự nguyện dùng tài sản của mình là 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587 và 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674 để đảm bảo cho khoản vay của mình tại TFSVN Hợp đồng thế chấp nêu trên được giao kết theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí; Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án yêu cầu thanh toán số nợ tín dụng theo Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 được ký giữa TFSVN với anh Nguyễn Văn T, mục đích vay: Vay mua xe ô tô. Vì vậy xác định đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn T có địa chỉ tại xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội. Do bị đơn không thanh toán được khoản nợ cho TFSVN khi đến hạn trả nợ từ ngày 15/10/2023, TFSVN đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ nhưng bị đơn không trả được nợ. Vì vậy, ngày 08/01/2025, TFSVN đã khởi kiện anh Nguyễn Văn T đến Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh T phải thanh toán trả TFSVN toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo theo Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không có căn cứ để xem xét.
Trong vụ án này: Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp; giao dịch dân sư giữa các đương sự được thực hiện khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, vì vậy vụ án được áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.
[2] Về nội dung: Căn cứ theo Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 được ký giữa TFSVN với bị đơn; mục đích vay: Vay mua xe ô tô; Đồng thời thoả thuận về tài sản đảm bảo cho khoản vay là 02 chiếc xe ô tô được mua theo hợp đồng nêu trên. Theo đó T1 đã giải ngân cho anh T tổng số tiền là: 1.330.000.000 đồng thông qua việc chuyển tiền vào tài khoản của đơn vị bán xe là Công ty cổ phần T3 để anh Nguyễn Văn T mua 02 chiếc xe ô tô là: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587 và 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674. Sau đó, TFSVN đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận về việc đăng ký biện pháp bảo đảm đối với 02 chiếc xe ô tô nêu trên thông qua Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo xử lý tài sản bảo đảm ngày 02/2/2024. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, anh Nguyễn Văn T đã trả nợ được cho TFSVN số tiền: Gốc: 0 đồng; Lãi: 0 đồng. Anh Nguyễn Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/10/2023. Vì vậy, TFSVN đã chuyển toàn bộ nợ của anh Nguyễn Văn T sang nợ quá hạn theo quy định. Và từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến nay anh Nguyễn Văn T không trả bất cứ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho TFSVN.
[3] Tại phiên tòa hôn nay, Nguyên đơn TFSVN xác nhận bị đơn còn nợ số tiền tính đến ngày 22/5/2025 là tổng cộng: 1.592.349.940 đồng; nợ gốc: 1.330.000 đồng; Nợ lãi: 213.210.674 đồng; lãi quá hạn: 49.139.266 đồng .
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 và Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo xử lý tài sản bảo đảm được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng này, các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng, tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 15/10/2023 nên TFSVN khởi kiện buộc bị đơn phải thanh toán cho TFSVN số tiền còn nợ tính đến ngày 22/5/2025 là tổng cộng: 1.592.349.940 đồng; nợ gốc: 1.330.000 đồng; Nợ lãi: 213.210.674 đồng; lãi quá hạn: 49.139.266 đồng.
Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn trong các hợp đồng tín dụng là đúng, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên việc TFSVN khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả TFSVN số tiền nợ trên là có căn cứ và được chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của TFSVN: Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn không thanh toán trả cho TFSVN nợ gốc và nợ lãi thì TFSVN có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án. Hội đồng xét xử thấy: Tại mục 14 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng số 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 và Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo xử lý tài sản bảo đảm được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Xác định tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587 và 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674.
Như vậy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa bị đơn và TFSVN là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T cũng tự nguyện thế chấp tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay tại TFSVN. Vì vậy có đủ căn cứ để xác nhận việc thế chấp nêu trên có giá trị pháp lý. Yêu cầu của TFSVN đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì TFSVN có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
- Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
- Vì các căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều Điều 317, 318, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”; căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên T2.
- Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho Công ty TNHH một thành viên T2 tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 tạm tính đến ngày 22 tháng 5 năm 2025 là: 1.592.349.940 đồng; nợ gốc: 1.330.000.000 đồng; Nợ lãi: 213.210.674 đồng; lãi quá hạn: 49.139.266 đồng.
Kể từ ngày 23 tháng 5 năm 2025, anh Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty TNHH một thành viên T2 theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại theo Hợp đồng số: 10009959587 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng số: 1000959674 ngày 15/08/2023 mà hai bên đã ký.
Trường hợp Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn cho vay.
2. Trường hợp anh Nguyễn Văn T không trả được nợ, Công ty TNHH một thành viên T2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD901905782; số máy: 2GDA689858; biển kiểm soát: 29K-037.12; màu sơn: trắng; theo hợp đồng số 1000959587 và 01 xe ô tô Toyota Hilux; số khung: MR0JB3DD001905833; số máy: 2GDD234808; biển kiểm soát: 29K-037.06; màu sơn: trắng ngọc; theo hợp đồng số: 1000959674.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư TFSVN phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho TFSVN số tiền còn thiếu.
3. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí sơ thẩm:
- Anh Nguyễn Văn T phải chịu 59.770.498 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Công ty TNHH một thành viên T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.000.000 đồng theo biên lai thu số 0020321 ngày 08 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 22 tháng 5 năm 2025. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai; - Chi cục THA dân sự huyện Quốc Oai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Long |