vanban.org

Bản án 50/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày 28 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Dinh, ông Giàng A Gông

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST - HS ngày 04/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST - HS ngày 17/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1976 tại huyện C, Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Quê quán: xã T, thành phố L, tỉnh Hà Nam; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Tủa C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết K (đã chết) và bà Trần Thị D (đã chết); Vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và có 01 con

- Sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Chức vụ đảng, chính quyền: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.

Tạm giữ từ ngày 13/3/2024 đến ngày 22/3/2024, tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 13/3/2024 bị cáo Nguyễn Văn T một mình đi bộ từ nhà tại tổ dân phố N, thị trấn T sang tổ dân phố Q, thị trấn T để tìm mua ma túy sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái ngoài đường, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này hỏi mua được 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo cầm gói ma túy trong bàn tay phải của mình rồi đi bộ về nhà. Đến 16 giờ 50 phút cùng ngày, khi bị cáo đến đoạn đường thuộc tổ dân phố N, thị trấn T thì gặp tổ công tác Công an huyện C, do sợ bị phát hiện nên bị cáo đã ném gói ma túy đang cầm trong tay phải xuống mặt đường, nhưng đã bị tổ công tác phát hiện và thu giữ gói ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn và 03 viên nén màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY.

Bị cáo khai nhận mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng đã bị Công an huyện C bắt quả tang và thu giữ.

Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 13/3/2024 Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T: Các cục chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,1227 gam lấy toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu H1; 03 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2984 gam lấy toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1.

Kết luận giám định số 559/KL - PC09 ngày 20/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng 0,1227gam các cục chất bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine và 0,2984 gam viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: H1: 0,05 gam; M1: 0,27 gam.

Cáo trạng số 18/CT- VKSHTC ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy'' theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy''; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 vỏ bao niêm phong cũ, 01 mảnh nilon; Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và Bản kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Có đủ cơ sở kết luận ngày 13/3/2024 bị cáo đã một mình mua được 02 chất ma túy với giá 150.000 đồng của người phụ nữ không quen biết tại tổ dân phố Q, thị trấn T. Khi mua được bị cáo cất giấu gói ma túy trong bàn tay phải của mình rồi đi bộ về đến đoạn đường thuộc tổ dân phố N, thị trấn T đã bị Cơ quan điều tra Công an huyện C bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,1227 gam Heroine và 0,2984 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,4211 gam. Hành vi cất giấu trái phép hai chất ma túy của bị cáo với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy'' theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. [3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị, không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp. [4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án: Đối với khối lượng 0,05 gam Heroine và 0,27 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ gói niêm phong cũ là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. [6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" 2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 13/3/2024. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: H1: 0,05 gam, M1: 0,27 gam; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ gói niêm phong cũ.

Số vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2024).

Cỡ chữ