vanban.org

Bản án 50/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cứ A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Cứ A L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 15/4/2024. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cứ A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 50/2024/HS-ST
Ngày 26-6-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Thơm.

Bà Liêu Ngọc Mai.

- Thư ký phiên tòa: bà Vi Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 26/6/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Mường Toong, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 30/05/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cứ A L; Sinh năm 1995 tại xã Kh, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Chuyên Gia 1, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cứ A S (đã chết) và bà Mùa Thị M (đã chết); Bị cáo chung sống với chị Vàng Thị L, sinh năm 1999 (chưa đăng ký kết hôn) và có 04 người con chung với chị Vàng Thị L; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt, xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024, bị tạm giam từ 24/4/2024 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L, Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vàng A Kh, sinh năm 2000, trú tại bản H, xã P, huyện M, tỉnh Điên Biên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 15/4/2024 Cứ A L một mình đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, xe không biển kiểm soát (xe bị cáo mượn của Vàng A Kh) từ nhà lên khu vực bản N, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên tìm việc làm thuê để kiếm tiền mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ L đi đến bản N, xã H và hỏi một số người nhưng không tìm được việc làm thuê. Khi đang đi bộ trong bản N, L gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt (người đàn ông chỉ giới thiệu tên là C) và mua được của ông ta 01 gói nhỏ Heroine được gói trong mảnh nilon màu hồng với giá tiền 100.000 đồng, do chưa có tiền nên L hẹn người đàn ông đó ngày mai sẽ quay lại đưa tiền cho ông ta và được ông ta đồng ý. Sau khi đưa ma túy cho L người đàn ông lạ mặt đi đâu L không biết, còn L chia số Heroine vừa mua được thành 03 gói nhỏ, gói trong mảnh nilon màu hồng và cất số ma túy vừa mua được ở túi quần bên phải mặc trên người và điều khiển xe mô tô quay về nhà. Đến 17 giờ cùng ngày khi L điều khiển xe mô tô về đến bản bản N, xã P, huyện M thì bị tổ công tác Công an xã P phối hợp với Công an xã N phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của L 03 gói Heroine có khối lượng 0,44 gam được gói trong 03 mảnh nilon màu hồng và 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu xanh, đen, xe không biển kiểm soát. L khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.

Kết luận giám định số 715/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Cứ A L có khối lượng 0,44 gam là chất ma túy: Loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định (0,41 gam Heroine) và 03 mảnh nilon màu hồng.

Quá trình điều tra đã làm rõ, chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn xanh đen, xe không biển kiểm soát, số máy JA52E0301674, số khung RLHJA3859MY133432 là của anh Vàng A Kh, sinh năm 2000, trú tại bản H, xã P, huyện M, tỉnh Điên Biên.

Ngày 20/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vàng A Kh 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn xanh đen, xe không biển kiểm soát, số máy JA52E0301674, số khung RLHJA3859MY133432 (kèm chìa khóa xe).

Cáo trạng số 30/CT-VKS-MN ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Cứ A L để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroine được hoàn lại sau khi trích giám định là 0,41 gam và 03 mảnh nilon màu hồng; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và xét đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vàng A Kh vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh Kh là em rể của bị cáo Cứ A L, anh Kh mua lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn xanh đen, xe không biển kiểm soát, số máy JA52E0301674, số khung RLHJA3859MY133432 của bị cáo L vào ngày 03/3/2024, mua có giấy tờ mua bán hợp pháp nhưng chưa sang tên. Ngày 14/4/2024 vợ chồng bị cáo Cứ A L sang thăm mẹ bị ốm ở nhà Kh, lúc về Kh cho L mượn xe mô tô này để đưa vợ của bị cáo L về. Việc bị cáo L dùng xe mô tô này đi mua ma túy Kh không biết, Kh đã nhận lại xe mô tô và không đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vàng A Kh. Xét thấy, anh Kh đã được Tòa án triệp tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên lời các khai đã có đầy đủ trong hồ sơ, sự vắng mặt không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Cứ A L khai: Khoảng 08 giờ ngày 15/4/2024 bị cáo Cứ A L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, xe không biển kiểm soát (xe mô tô này bị cáo mượn của Vàng A Kh) từ nhà lên khu vực bản N, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên tìm việc làm thuê để kiếm tiền mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ bị cáo tới nơi nhưng không tìm được việc để làm thuê, khi đang đi bộ trong bản N, xã H, L gặp và mua được 0,44 gam Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt với giá tiền 100.000 đồng (do bị cáo không có tiền nên bị cáo hẹn người đàn ông dân tộc Mông ngày hôm sau quay lại để đưa tiền cho ông ta và được ông ta đồng ý). Sau khi đưa ma túy cho L người đàn ông lạ mặt đi đâu L không biết, còn L chia số Heroine vừa mua được thành 03 gói nhỏ, gói trong mảnh nilon màu hồng và cất số ma túy vừa mua được ở túi quần bên phải mặc trên người và điều khiển xe mô tô quay về nhà. Đến 17 giờ cùng ngày khi L điều khiển xe mô tô về đến bản bản N, xã P, huyện M thì bị tổ công tác Công an xã P phối hợp với Công an xã N phát hiện, bắt quả tang. Mục đích bị cáo mua Heroine về để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 0,44 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Xét đề nghị của người bào chữa là thấp, chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo cao hơn để đảm bảo tính răn đe.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,41 gam Heroine được hoàn lại sau khi đã trích giám định (Khối lượng Heroine thu giữ là 0,44 gam, đã trích toàn bộ gửi giám định, hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,41 gam Heroine) và 03 mảnh nilon màu hồng, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn xanh đen, xe không biển kiểm soát, số máy JA52E0301674, số khung RLHJA3859MY133432, quá trình điều tra làm rõ xe mô tô thuộc quyền sở hữu của anh Vàng A Kh, anh Kh không biết gì về việc bị cáo L dùng xe này đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Kh (chủ sở hữu hợp pháp) là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí:

Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Cứ A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Cứ A L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 15/4/2024.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 0,41 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định và 03 mảnh nilon màu hồng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ