- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T và Lèo Văn L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Lèo Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024 V/v xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Ngọc Thương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ và ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản P, xã C, Hện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lèo Văn L, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản N, xã C, Hện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày như sau:
Chị và anh Lèo Văn L kết hôn từ năm 2014 trên cơ sở tự nguyện do hai bên tự do tìm hiểu, không ai bị ép buộc. Anh chị đã đi đăng ký kết hôn tại UBND xã C, Hện Mai Sơn vào ngày 08/4/2014 và được hai bên gia tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc khoảng 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L thường xuyên uống rượu say, ghen tuông vô cớ, đánh chửi chị nên cuộc sống không hòa thuận hạnh phúc. Anh chị đã Nều lần được hòa giải, chị đã từng về nhà bố mẹ đẻ nhưng sau đó vợ chồng quay L đoàn tụ một thời gian. Tuy Nên, anh L không thay đổi nên chị xác định không thể chung sống nên đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Sau thời gian dài ly thân, chị xác định vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn không thể giải quyết nên đề Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Lèo Thị Yến N, sinh ngày 23/10/2012; cháu Lèo Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2015 và cháu Lèo Gia H, sinh ngày 05/8/2017. Trong thời gian ly thân, cháu N ở cùng chị, cháu M và cháu H ở cùng với anh L. Khi ly hôn, có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu N.
Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lèo Văn L đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản có ý kiến về việc chị T xin ly hôn. Do đó, Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng của chị T và anh L nơi cư trú của anh chị và đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Lèo Văn L. Về con chung: Giao cháu Lèo Thị Yến N, sinh ngày 23/10/2012; cháu Lèo Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2015 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Giao cháu Lèo Gia H, sinh ngày 05/8/2017 cho anh Lèo Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Anh L và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Về tài sản chung vợ chồng và nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí xin ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện được xác định trong đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn về việc xin ly hôn với anh Lèo Văn L có nơi cư trú tại Bản P, xã C, Hện Mai Sơn. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Hện Mai Sơn thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và xác định quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, phân chia tài sản chung và nợ chung là đúng quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn:
Về hôn nhân:
Chị Hoàng Thị T và anh Lèo Văn L kết hôn với nhau từ năm 2014 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và không bị ai ép buộc. Anh chị đã được UBND xã C, Hện Mai Sơn cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/4/2014, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng thời gian 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình giải quyết, chị T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là do anh L thường xuyên uống rượu say, ghen tuông vô cớ, đánh chửi chị nên cuộc sống không hòa thuận hạnh phúc. Mâu thuẫn của anh chị đã được hòa giải nhưng không thể hàn gắn được tình cảm nên chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L Nều lần trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án. Quá trình xác minh tình trạng hôn nhân tại gia đình và địa phương thể hiện, anh L và chị T có mâu thuẫn và đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng trong cuộc sống nên chị T đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ năm 2022, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, anh L mặc dù biết chị T có đề nghị giải quyết ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không thể hiện thiện chí hòa giải với chị T. Chị T xác định vợ chồng không thể hàn gắn được tình cảm, cương quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Lèo Văn L.
Về con chung: Chị T và anh L xác nhận có 03 con chung là cháu Lèo Thị Yến N, sinh ngày 23/10/2012; cháu Lèo Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2015 và cháu Lèo Gia H, sinh ngày 05/8/2017. Chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu N. Qua xác minh xác định thể hiện thu nhập của chị T và anh Đoàn từ nông nghiệp là chủ yếu. Trong thời gian ly thân, cháu M và cháu H ở cùng anh L. Tại văn bản ghi ý kiến của con chung chưa thành niên trên 07 tuổi, cháu N và cháu M có nguyện vọng ở cùng chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, anh L và chị T có điều kiện nuôi dưỡng ngang nhau, cháu M và cháu N là con gái, có nguyện vọng ở cùng mẹ, cháu H đã trên 03 tuổi. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và điều kiện kinh tế của hai bên nên cần giao cháu M và cháu N có chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ: Do chị T và anh L đều nuôi dưỡng con chung nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh L đều không kê khai tài sản chung và nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí xin ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, các Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn, vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Lèo Văn L.
2. Về con chung: Giao cháu Lèo Thị Yến N, sinh ngày 23/10/2012; cháu Lèo Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2015 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Giao cháu Lèo Gia H, sinh ngày 05/8/2017 cho anh Lèo Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Anh L và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ cùng nhau.
Sau khi ly hôn, anh L và chị T được quyền thăm nom con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định, không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VND (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002025 ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự Hện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ban án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện kiểm sát nhân dân Hện Mai Sơn; - Chi cục THADS Hện Mai Sơn; - Các đương sự. - Ủy ban nhân dân xã C; - Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Ngọc Thương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |