vanban.org

Bản án 50/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thu L về việc “Ly hôn”. Chị Đinh Thị Thu L được ly hôn với anh Triệu Văn B.

Về con chung: Giao cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019 cho chị Đinh Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thu L về việc “Ly hôn”. Chị Đinh Thị Thu L được ly hôn với anh Triệu Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
T NH ẮK ẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-11-2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, T NH ẮK ẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Liên;

2. Bà Nguyễn Thị Chinh;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Thu L, sinh năm 1995; trú tại: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);

- Bị đơn: Anh Triệu Văn B, sinh năm 1995; trú tại: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Đinh Thị Thu L trình bày: Chị Đinh Thị Thu L với anh Triệu Văn B là vợ chồng và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 13/8/2018 tại UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Triệu Văn B không chăm lo làm ăn giúp đỡ gia đình, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L đã nhiều lần tạo cơ hội cho anh B sửa đổi nhưng anh B không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho tới nay. Xét thấy tình cảm không còn nên chị Đinh Thị Thu L đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Triệu Văn B.

Về con chung: 01 con chung, cụ thể: Cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019, con chung phát triển bình thường. Sau khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Tài đang ở với chị L và đi học tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nguyện vọng nếu ly hôn chị Đinh Thị Thu L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Triệu Văn B có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh Triệu Văn B trình bày: Về quan hệ hôn nhân đúng như chị Đinh Thị Thu L đã trình bày. Anh Triệu Văn B với chị Đinh Thị Thu L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 13/8/2018 tại UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thì vợ chồng không tránh khỏi việc lời qua tiếng lại trong gia đình. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trong để ly hôn. Trước đây hai vợ chồng cùng đi làm công nhân và chung sống với nhau tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tuy nhiên từ tháng 6/2024 cho tới nay vì mẹ già yếu nên anh B về huyện Krông Năng để sinh sống, làm ăn chăm sóc mẹ già.

Nay, chị Đinh Thị Thu L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh Triệu Văn B không đồng ý ly hôn.

Về con chung: 01 con chung, cụ thể: Cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019, con chung phát triển bình thường. Sau khi anh B về huyện Krông Năng sinh sống thì cháu T đang ở với chị L tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nguyện vọng nếu ly hôn anh Triệu Văn B sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Chị Đinh Thị Thu L được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến ngày xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định, thủ tục mở phiên tòa đảm bảo. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai và ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị Thu L với anh Triệu Văn B.

Về con chung: Giao cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019 cho chị Đinh Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Triệu Văn B có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu ly hôn nên nguyên đơn chị Đinh Thị Thu L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ kiện “Ly hôn” và bị đơn có nơi cư trú tại xã Ea Tân, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Thu L với anh Triệu Văn B cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Đắk Lắk ngày 13/8/2018. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị L với anh B là hợp pháp. Vì vậy, chị Đinh Thị Thu L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Xét tình trạng hôn nhân: Quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2024 cho tới nay. Xét thấy, hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc nhưng chị L với anh B thường xuyên mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên có cơ hội quay lại đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định tình trạng hôn nhân chị L với anh B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị Thu L.

[2.2] Về con chung: Cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019, phát triển bình thường. Quá trình giải quyết vụ án cả chị L và anh B đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy sau khi sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 cho tới nay thì cháu Tài đang được chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đi học mẫu giáo tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hơn nữa, cháu T còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, tránh xáo trộn về tâm lý, ổn định cuộc sống, học tập của cháu nên cần giao các cháu Triệu Tấn T cho chị Đinh Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Anh Triệu Văn B có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn nên nguyên đơn chị Đinh Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011783 ngày 24/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Thu L về việc “Ly hôn”. Chị Đinh Thị Thu L được ly hôn với anh Triệu Văn B.

2. Về con chung: Giao cháu Triệu Tấn T, sinh ngày 11/02/2019 cho chị Đinh Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Anh Triệu Văn B có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở quyền này.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Đinh Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011783 ngày 24/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ