- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/02/2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai;
2. Ông Nguyễn Văn Trí.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 821/2023/TLST-HNGĐ về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Minh N, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ 13, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Có văn bản xin vắng mặt);
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn ông Trương Minh N trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Thu T tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường cự cãi, vợ chồng không còn sống chung từ thời gian đó đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn ông N yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung Trương Thị Mỹ N, sinh ngày 22/3/2005. Hiện con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà T vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trương Minh N đối với bà Nguyễn Thị Thu T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Trương Minh N yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T, bà T có nơi cư trú ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn ông Trương Minh N có yêu cầu xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Ông Trương Minh N yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T, ông N và bà T có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo ông N trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường cãi nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc ông N yêu cầu ly hôn và triệu tập bà T tham gia các phiên h p về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng bà T vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông N. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông N và bà T đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường cãi nhau và không còn chung sống từ cuối năm 2020 đến nay. Trong thời gian này, hai bên c ng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau c ng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, ông N xác định vợ chồng có 01 con chung tên Trương Thị Mỹ N, sinh ngày 22/3/2005. Hiện con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về quan hệ tài sản chung: Ông N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về quan hệ nợ chung: Ông N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Minh N đối với bà Nguyễn Thị Thu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Minh N được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 271, ngày 22 tháng 10 năm 2007 do Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho ông Trương Minh N và bà Nguyễn Thị Thu T không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trương Thị Mỹ N, sinh ngày 22/3/2005. Hiện con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về quan hệ tài sản chung: Không có.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc ông Trương Minh N xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì ông Trương Minh N và bà Nguyễn Thị Thu T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Trương Minh N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0014730 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 05/12/2023. Ông Trương Minh N đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |