vanban.org

Bản án 50/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Thị L và anh Phạm Văn S ly hôn.

Về con chung: Chị Thị L và anh Phạm Văn S có 02 người con tên Phạm Nhựt L, sinh ngày 18/5/2001 và Phạm Thị Mỹ H, sinh ngày 13/3/2004, hiện nay các con đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về tài sản và nợ chung: Chị Thị L thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "THỊ L - PHẠM VĂN S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Thị L và anh Phạm Văn S ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29- 5-2024
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Nguyễn Thanh Nguyên.

2- Bà Trần Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Thị L, sinh năm 1980 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thị L trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Thị L và anh Phạm Văn S kết hôn với nhau năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐôngYên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 23/10//2002, vợ chồng về chung sống lúc đầu rất là hạnh phúc đến năm 2018 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thậm chí anh S còn hành hung chị, làm cho vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, từ đó vợ chồng ly từ cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Phạm Văn S.

Về con chung: Có 02 người con tên Phạm Nhựt L, sinh ngày 18/5/2001 và Phạm Thị Mỹ H, sinh ngày 13/3/2004, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Chị Thị L thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phạm Văn S Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Thị L vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn S.

Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản vả nợ chung: Chị Thị L thừa nhận không và yêu cầu giải quyết nên không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Thị L xử cho chị Thị L và anh Phạm Văn S được ly hôn.

Về con chung: Hiện nay các con đã trưởng thành và chị Thị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản vả nợ chung: Chị Thị L thừa nhận không và yêu cầu giải quyết nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Phạm Văn S được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Văn S.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Thị L và anh Phạm Văn S kết hôn với nhau năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐôngYên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 23/10//2002 nên hôn nhân của chị L và anh S là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cự cãi nhau từ đó vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay, trong thời gian vợ chồng ly thân anh chị và gia định cũng không tự hoà giải với nhau được.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Thị L xử cho chị Thị L và anh Phạm Văn S ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Thị L và anh Phạm Văn S có 02 người con tên Phạm Nhựt L, sinh ngày 18/5/2001 và Phạm Thị Mỹ H, sinh ngày 13/3/2004, hiện nay các con đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản vả nợ chung: Chị Thị L thừa nhận không và yêu cầu giải quyết nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng. Vậy chị Thị L đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như đã nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Xử cho chị Thị L và anh Phạm Văn S ly hôn.

2.Về con chung: Chị Thị L và anh Phạm Văn S có 02 người con tên Phạm Nhựt L, sinh ngày 18/5/2001 và Phạm Thị Mỹ H, sinh ngày 13/3/2004, hiện nay các con đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3.Về tài sản và nợ chung: Chị Thị L thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0006531 ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị L đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị L có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/5//2024). Đối với anh S vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ