- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HSST Ngày: 01/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Hải;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 03 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/TLST - HS ngày 16/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXX ngày 16/02/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H ; Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1978
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở : xóm Thắng Lợi, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12. Con ông: Nguyễn Văn D (đã chết); con bà: Trần Thị N , sinh năm 1944; Bị cáo có 06 anh chị, em, Hoan là con thứ 5; vợ thứ nhất: Phạm Thị K (đã ly hôn năm 2008), có 01 con chung sinh năm 1999; vợ thứ hai Lê Thị T , sinh năm 1977, vợ chồng có 01 con chung sinh năm 2012.
Tiền án: Năm 2020, bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 36/2020/HS-ST ngày 25/02/2020. Hoan chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2022, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 1998, bị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 313 ngày 04/11/1998 (chấp hành xong bản án ngày 30/12/2019).
Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Văn Hoan bị bắt tạm giữ từ ngày 04/10/2022, đến ngày 13/10/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa). * Người chứng kiến: 1. Ông Vũ Ngọc Q , sinh năm 1991; Trú tại: TDP Soi Trại, phường Đông Cao, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, Tổ công tác của Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Công an xã Vạn Phái, thành phố Phổ Yên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại trên khu vực TDP Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên thì phát hiện có đối tượng Nguyễn Văn H có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì H tự lấy từ trong túi áo phía trước đang mặc giao nộp cho tổ công tác 02 (hai) túi ni lông, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục. Theo Hoan khai số chất rắn màu trắng đục là ma tuý loại Heroine do Hoan mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoan, niêm phong vật chứng thu giữ, chuyển hồ sơ cùng vật chứng đến công an thành phố Phổ Yên để giải quyết theo quy định.
Trong ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong vật chứng ký hiệu H thu giữ của Nguyễn Văn H bên trong có 02 túi ni lon bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục, cân trọng lượng vật chứng và lấy mẫu giám định; kết quả: Sử dụng cân điện tử tại Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Thái Nguyên cân khối lượng chất rắn màu trắng đục được 0,224 gam (đã trừ bì). Tất cả số chất rắn màu trắng đục nêu trên được cho vào phong bì màu trắng dán kín niêm phong lại ký hiệu T để gửi giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh Thái Nguyên theo quy định; Vỏ bao mẫu của phong bì niêm phong ký hiệu H, được niêm phong ký hiệu Q để lưu kho.
Cùng ngày 04/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 380/QĐ - CSĐT đối với mẫu niêm phong ký hiệu T thu của Nguyễn Văn Hoan, yêu cầu giám định để xác định các chất thu giữ có phải là ma túy không? nếu ma túy là loại gì, khối lượng của mẫu giám định là bao nhiêu?
Tại bản Kết luận giám định số: 1609/KL - KTHS ngày 12/10/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:
Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu T gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine (Heroin), có khối lượng: 0,244 gam.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T, bên trong có 0,205 gam Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q ghi mẫu lưu kho của Nguyễn Văn H được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Hoan là người nghiện chất ma túy. Hồi 14 giờ ngày 04/10/2022, H bắt xe buýt đi từ nhà tại xóm Thắng Lợi, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nơi, Hoan xuống xe rồi đi bộ vào trước cửa một ngôi nhà có cửa bằng sắt đóng kín, phía dưới chân cửa có khoét một lỗ nhỏ nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. H cầm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ dưới chân cửa sắt vào bên trong ngôi nhà thì có người trong nhà cầm tiền rồi đưa ra ngoài qua lỗ nhỏ cho H 02 (hai) túi ni lông, bên trong có chứa ma túy loại Heroine. H không biết chủ ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai. Sau khi mua được ma tuý, Hoan cất vào trong túi áo phía trước đang mặc rồi đi ra vỉa hè hành lang đường Quốc lộ 3 cũ để đi về thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, H đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được cho lực lượng Công an. Mục đích Hoan mua ma tuý là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác.
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 35/CT - VKSPY ngày 12/01/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Nguyễn Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:
Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng.
Xét về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án và có 01 nhân thân cần xem xét trong khi lượng hình.
Tình tiết giảm nhẹ được hưởng: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo H phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “ Tái phạm”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 - 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo nghiện, không có nghề nghiệp ổn định. Đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,205 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng ký hiệu Q bên trong đựng vỏ bao mẫu niêm phong vật chứng thu giữ;
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người chứng kiến vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của pháp luật.
. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận: Do là người nghiện ma tuý, thường phải đi mua ma túy sử dụng nên thông qua bạn bè giới thiệu nơi bán ma tuý tại ngôi nhà cổng sắt đóng kín thuộc TDP Kim Tỉnh, phường Trung Thành, TP Phổ Yên, ngày 04/10/2202 bị cáo đã bắt xe buýt đi từ nhà đến TDP Kim Tỉnh để mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, không cần phải có tín hiệu báo trước, bị cáo chỉ việc đưa số tiền 200.000đ, qua lỗ nhỏ sát nền bê tông cánh cổng sắt thì có người bên nhà cầm tiền rồi đưa vào tay bị cáo 02 gói ma túy. Do không cần trao đổi để mua được ma túy nên bị cáo không biết người bán ma tuý là nam hay nữ. Khi mua xong, bị cáo cất giấu ma túy ở túi áo trước ngực, quay trở ra bắt xe để về thì bị lực lượng Công an làm nhiệm vụ bắt giữ, bị cáo ý thức được cất ma tuý trong túi là vi phạm nên giao nộp toàn bộ. Về kết luận giám định gói ma tuý bị cáo tàng trữ trong người là Heroine, bị cáo xác định hoàn toàn là đúng, mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân chứ không có mục đích mua bán, không có đồng phạm khác.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, tại khu vực TDP Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,224 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, ý thức cố ý cất giấu 0,224 gam ma túy loại Heroine trong người đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cụ thể nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự có nội dung:
“1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (Heroine) là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 9, Nghị định 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (danh mục I là các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội). Hành vi của bị cáo cũng đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, huỷ hoại lối sống, nhân cách của một số thanh niên hiện nay, phá vỡ hạnh phúc biết bao gia đình, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Việc đưa ra xét xử là nhằm đấu tranh dần loại bỏ loại tội phạm này.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 1998, bị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 10 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 313 ngày 04/11/1998. Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích là: Năm 2020, bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 36/2020/HS-ST ngày 25/02/2020, ngày 04/10/2022, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, bị cáo còn phải chịu thêm 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét để lên mức hình phạt tù cho phù hợp với hành vi bị cáo thực hiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “Tái phạm”.
. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo đã có 01 tiền án về cùng một loại tội, chưa được xóa án tích nhưng do không từ bỏ được ma túy, dẫn dắt bị cáo đến côn đường tiếp tục phạm tội. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ nghiêm khắc để làm gương răn đe chung.
.Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên việc áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định 0,205 gam, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy;
. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
.Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy Heroine, H khai mua tại một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín nằm phía bên trái đường Quốc lộ 3 cũ theo hướng Thái Nguyên - Hà Nội, thuộc tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên. H không biết ngôi nhà này của ai, khi mua không nhìn thấy người bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm), Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Hoan 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Văn Hoan.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu T ghi hoàn trả 0,205 gam mẫu T còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu T;
- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu Q ghi mẫu lưu kho của Nguyễn Văn H .
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 16/01/2023).
5. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo tại phiên toà. Báo cho biết bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an thành phố Phổ Yên; - VKS nhân dân thành phố Phổ yên; - Thi hành án thành phố Phổ Yên; - Sở tư phâp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |