- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HSST Ngày: 29/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Quỳnh;
2. Ông Nguyễn Văn Dương.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023;và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Anh T, sinh ngày 12/10/1984, tên gọi khác: không; nơi sinh: thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: khu phố D, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn T1 và bà Luyện Thị T2; vợ: Lê Thị N; có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/3/2023 đến ngày 01/4/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).
- Người làm chứng:ông Trần Xuân T3 (vắng mặt).
- Người chứng kiến:ông Bùi Văn T4 (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 26/3/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy Trần Anh T bắt xe ôtô khách đi từ thị xã B ra khu vực thuộc tổ B, phường N, thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng, khi đến đầu ngõ A, đường N, T gặp một người đàn ông không quen biết, hỏi và mua được 01 gói ma túy (heroine) với giá 120.000 đồng rồi đi bộ vào ngõ A, đường N, ngồi bên hông tường của ngôi nhà bỏ hoang với mục đích để sử dụng số ma túy vừa mua được. Đến 10 giờ 20 phút cùng ngày khi T chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường N, thành phố T phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân, T không xuất trình được giấy tờ gì, khai tên Trần Anh T - sinh năm 1984, trú tại khu phố D, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác hỏi T đang cầm đồ vật gì ở tay phải, T khai đang cầm ở tay phải một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, ở bao thuốc có 01 túi ma túy Heroine, T giao nộp bao thuốc có gói ma túy cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành kiểm tra xác định bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã bóc một đầu, ở vị trí kẽ giữa vỏ túi nilon màu trắng bọc ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc có 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu, kích thước (7,5 x 4,5) cm, bên trong túi nilon có 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy màu trắng có chất bột dạng cục màu trắng đục, T khai là ma túy Heroine. Sau khi kiểm tra tổ công tác đã gói lại, và niêm phong vào trong một phong bì giấy dán kín mép, trên mép dán có chữ ký của T và những người tham gia. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu vàng, bên trong lắp 01 sim V có số thuê bao 0963.476.217, số tiền 120.000 đồng và 01 bơm kim tiêm loại 3ml/cc, 01 ống thủy tinh Novocain loại 3% chưa qua sử dụng, sau đó đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường N lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Tại trụ sở Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định chất bột dạng cục, màu trắng đục có trong túi nilon thu giữ của Trần Anh T có khối lượng 0,23 gam ký hiệu M gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 271/KL-KTHS-MT ngày 31/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Tại Bản kết luận giám định số 271/KL-KTHS-MT ngày 31/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng đục gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2324 gam là ma túy, loại Heroine.
Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại danh mục 1A số thứ tự 9 Nghị định 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản Cáo trạng số 46/CT-VKSTĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Anh T và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 26/3/2023.
+ Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng quy định pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 271/KL-KTHS-MT, vụ: Trần Anh T, sinh năm 1984, cất giấu trái phép CMT, xảy ra ngày 26/03/2023, tại phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,1480 gam là ma túy, loại Heroine (Heroin). Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
- 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (7,5x4,5)cm; 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước (6,1x6,1)cm.
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã bóc một đầu.
- 01 (một) bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc, chưa sử dụng.
- 01 (một) ống thủy tỉnh Novocain loại 03%, 02ml, chưa sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Trần Anh T số tiền 120.000đ
Người làm chứng ông Trần Xuân T3 trình bày: khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 26/3/2023, khi đang đi ở ngõ A đường N, phường N, thành phố T ông thấy Công an đến yêu cầu kiểm tra đối với Trần Anh T, tại chỗ T không xuất trình được căn cước công dân và tự giao nộp cho Công an bao thuốc lá Thăng Long màu vàng khai nhận bên trong có gói ma túy T mang theo để sử dụng; dưới nền đất trước mặt T có 01 ống nước thủy tinh và 01 bơm kim tiêm. Diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.
Người chứng kiến ông Bùi Văn T4 trình bày: khoảng 10 giờ 05 phút ngày 26/3/2023 ông được Cơ quan Công an mời ra khu vực ở ngõ A đường N, phường N, thành phố T để chứng kiến việc kiểm tra đối với Trần Anh T, sinh năm 1984. Khi ông đến T đã giao nộp 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cho cơ quan Công an, Công an đã tiến hành kiểm tra bao thuốc lá T giao nộp, bên trong không có đồ vật, tài sản gì, tại vị trí kẽ giữa vỏ nilon bọc ngoài vỏ bao thuốc lá có 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu bên trong có gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy màu trắng có chất bột dạng cục màu trắng đục, T khai nhận là ma túy loại Heroine rồi tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật. Sau đó lực lượng Công an đưa T và vật chứng về trụ sở Công an phường N tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng và biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại Cơ quan điều tra, lực lượng Công an mở niêm phong cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng, kiểm tra dấu vết trên thân thể của Trần Anh T.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL11-BL14), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL30), Kết luận giám định số 271/KL-KTHS-MT ngày 31/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL34) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: ngày 26/3/2023, tại tổ B, phường N, thành phố T, bị cáo Trần Anh T có hành vi tàng trữ 0,2324 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ 0,2324 gam ma tuý loại Heroine trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép và cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA. XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo Trần Anh T có nhân thân tốt.
Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khối lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Trong đó, số ma túy là vật cấm tàng trữ, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 120.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Anh T, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo Trần Anh T là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai nhận ngày 26/3/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo mua của một người không quen biết ở khu vực tổ B, phường N, thành phố T nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1.Tuyên bố: bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Anh T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/3/2023.
2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng quy định pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 271/KL-KTHS-MT, vụ: Trần Anh T, sinh năm 1984, cất giấu trái phép CMT, xảy ra ngày 26/03/2023, tại phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,1480 gam là ma túy, loại Heroine (Heroin). Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.
- 01 (một) phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (7,5x4,5)cm; 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước (6,1x6,1)cm.
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã bóc một đầu.
- 01 (một) bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc, chưa sử dụng.
- 01 (một) ống thủy tỉnh Novocain loại 03%, 02ml, chưa sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Trần Anh T số tiền 120.000đồng(một trăm hai mươi nghìn đồng)
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Số tiền hiện đang quản lý tại Kho bạc Nhà nước Tam Điệp theo ủy nhiệm chi lập ngày 31/5/2023 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).
3. Về án phí: bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/6/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Ninh Bình;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
- VKSND thành phố Tam Điệp;
- Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp;
- Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp;
- Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp;
- Bị cáo;
- Lưu: HSVA, VP.
Phạm Thị Bích Hồng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Ninh Bình;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
- VKSND thành phố Tam Điệp;
- Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp;
- Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp;
- Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp;
- Bị cáo;
- Lưu: HSVA, VP.
Phạm Thị Bích Hồng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Ninh Bình;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
- VKSND thành phố Tam Điệp;
- Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp;
- Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp;
- Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp;
- Bị cáo;
- Người bào chữa cho bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ;
Phạm Thị Bích Hồng
- Lưu: HSVA, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bích Hồng |