vanban.org

Bản án 50/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vàng A N 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS-ST.
Ngày: 29 - 03 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Oanh

Ông Nguyễn Thành Vương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 03 năm 2023, tại điểm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2023/TLST- ST ngày 09 tháng 03 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Vàng A N; tên gọi khác: Không, sinh năm 1970, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản H, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A Ch (Đã chết) và bà Giàng Thị P, sinh năm 1949; bị cáo có vợ là Tráng Thị S, sinh năm 1974 và 03 con; con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/01/2023 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 04/01/2023, Vàng A N đi bộ từ lán nương của gia đình tại Bản H, xã V, huyện V đến khu vực bản L, xã L, huyện V tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi N đang đi trên đường dân sinh của bản L, xã L, huyện V thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể. Qua trao đổi, N hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói đựng 17 viên Hồng phiến với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ về nhà. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, N đi về đến đường dân sinh Bản H, xã V, huyện V thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện V kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc trên người Vàng A N: 01 gói nilon màu tím bên trong đựng 17 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là Methamphetamine. Vàng A N khai số viên nén màu hồng bị thu giữ là ma túy của N, cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Vàng A N tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng nghi là ma túy và dẫn giải Vàng A N về trụ sở Công an huyện V và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 05/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với VKSND huyện V và phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành kiểm đếm, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Vàng A N được: 17 viên có tổng khối lượng 1,6 gam; lấy 03 viên = 0,28 làm mẫu giám định ký hiệu “N”; còn lại 14 viên = 1,32 gam lưu kho vật chứng. Mẫu giám định “N” được bàn giao cho phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 182 ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu N là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,6 gam Methamphetamine”.

Cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 07/03/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Vàng A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vàng A N từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói ban đầu + Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + 1,32 gam Methamphetamine; 01 que thử ma túy đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 04/01/2023, Vàng A N đã có hành vi cất giấu trái phép 1,60 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Vàng A N đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói ban đầu + Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + 1,32 gam Methamphetamine; 01 que thử ma túy đã qua sử dụng, là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc chất ma túy: Vàng A N khai mua của người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để tiến hành điều tra xử lý người bán ma túy cho Vàng A N.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Vàng A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Vàng A N 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ytong đựng Vỏ gói ban đầu + Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + 1,32 gam Methamphetamine; 01 que thử ma túy đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 51/BBVC-CCTHA ngày 09/03/2023.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ