vanban.org

Bản án 50/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

Áp dụng: Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HS-ST
Ngày: 18/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Anh Đức

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Tô

Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm

công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2023/TLST-HSST ngày 29/3/2023 theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 05/4/2023 đối với

bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990 tại Hà

Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở: Tổ 26, Đ, M, Hà Nội; Nghề nghiệp:

Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:

Không; Họ tên bố: Nguyễn Xuân T (đã chết); Họ tên mẹ: Cung Thị Kim T (sinh

năm: 1964); Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có 01 con

sinh năm 2016.

* Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/02/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt

05 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội “Gây rối trật tự

công cộng” theo Bản án số 119/HSST ngày 01/02/2010 (đã xóa án tích).

Danh chỉ bản số 31 do Công an huyện T lập ngày 29/12/2022

Bị cáo bị bắt quả tang, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ

ngày 23/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành

phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984 (có mặt)

Trú tại: Tổ 8, Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h20 phút ngày 23/12/2022, Nguyễn Xuân K đi xe máy BKS

29H1-406.84 từ nhà xuống khu vực chợ V, thuộc địa phận xã V, huyện T, thành phố Hà Nội gặp và mua của 01 nam thanh niên không quen biết 03 gói nilong bên trong có chứa ma túy “đá” với giá 900.000 đồng. Sau khi mua ma túy, K cất số ma túy trên vào trong túi quần bên phải K đang mặc rồi điều khiển xe máy đi đến khu vực giáp ranh giữa xã T và xã T thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện T, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an xã T phối hợp với Công an xã Thanh Liệt yêu cầu hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi bên phải chiếc quần dài của K đang mặc có 03 gói nilong bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, K khai nhận là ma túy do K mua về để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, phương tiện và đưa K về trụ sở để giải quyết.

Xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Xuân K, kết quả: Dương tính với chất

ma túy Methamphetamine.

Ngày 23/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết

định trưng cầu giám định đối với số tinh thể màu trắng được gói trong 03 gói nilong thu giữ của Nguyễn Xuân K. Tại bản Kết luận giám định số 8846 ngày 30/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 03 gói nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,661 gam”. Cơ quan giám định sử dụng hết 0,062 gam để giám định, còn lại 0,599 gam sau khi giám định hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, ban đầu Nguyễn Xuân

K khai nhận mua số ma túy trên về để bán lại kiếm lời. Quá trình điều tra, K thay đổi lời khai. K khai bản thân là người nghiện, đã mua số ma túy trên với mục đích để bản thân sử dụng. Khi mới bị bắt, K khai là mua về bán vì nghĩ rằng chưa bán được cho ai thì sẽ được xử lý nhẹ hơn.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho K, quá trình điều tra K khai không

biết tên, tuổi và địa chỉ của người này nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe máy biển kiểm soát 29H1-

406.84 thu giữ của Nguyễn Xuân K là chị Nguyễn Thị Kim T (sinh năm:1984; Chỗ ở: Tô 8, Đ, Đ, H, Hà Nội). Chị T là chị của K, cho K mượn xe để làm phương

tiện đi lại, không biết K sử dụng xe máy đi mua ma túy. Ngày 12/01/2023, Cơ

quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại cho chị Thu chiếc xe máy bị

thu giữ, chủ sở hữu nhận lại tài sản, không yêu cầu về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSTT ngày 22/3/2023, Viện kiểm sát nhân

dân huyện T đã truy tố Nguyễn Xuân K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân K khai: bị cáo mua ma túy để sử dụng

cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ăn

năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án

nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Xuân K về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình

sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1

Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt:

Nguyễn Xuân K mức án từ: 20-24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt

23/12/2022. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt

bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề

nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào

kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng

cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều

tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ

luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào

có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng

cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 9h45 phút ngày 23/12/2022, tại khu vực thôn V, xã T, huyện T, thành

phố Hà Nội, khi Nguyễn Xuân K tàng trữ trái phép 0,661 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ

độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội, được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Nhân thân của bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt về tội “Gây rối trật tự công cộng”, mặc dù đã được xóa án tích, nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được giáo dục pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Điều này chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi

phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có

thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên

trong có chứa 0,599 gam ma túy loại methamphetamine, tại các mép dán có chữ

ký của Nguyễn Xuân K, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng và cán bộ Công an

xã T.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 29H1-406.84 thu giữ của Nguyễn

Xuân K là chị Nguyễn Thị Kim T cho K mượn xe để làm phương tiện đi lại, không

biết K sử dụng xe máy đi mua ma túy. Ngày 12/01/2023, chị Thu đã nhận lại tài

sản, không yêu cầu về dân sự nên không xem xét.

- Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù

hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”

2. Áp dụng: Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249

của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính

từ ngày 23/12/2022.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng

hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,599

gam ma túy loại methamphetamine, tại các mép dán có chữ ký của Nguyễn Xuân

K, giám định viên Nguyễn Hoàng H và cán bộ Công an xã T được lưu giữ tại Chi

cục thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày

14/4/2023 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi

hành án dân sự huyện T.

5. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336,

337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban

hành kèm theo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng

cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ